Khác

Đỗ Hoài Nam (thiếu tướng)

Đỗ Hoài Nam (24 tháng 8 năm 1931 – 23 tháng 8 năm 1990) là một bác sĩ phẫu thuật và sĩ quan cấp cao của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng, từng đảm nhiệm chức vụ Viện trưởng Viện Quân y 175, Phó Cục trưởng Cục Quân y. Ông được nhà nước Việt Nam phong tặng cả hai danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Thầy thuốc nhân dân.

Đồng Tháp17/09/2026Đoàn xã Bình Gia (xã Bình Gia)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sự nghiệp

Giai đoạn đầu

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ,[4] sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhiều tổ chức như Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt lần lượt được thành lập đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ nhân dân xã Hội Cư. Đặng Văn Nhị cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng tại xã, khởi đầu với những công việc mang tính hành chính trong bộ máy chính quyền địa phương. Sau đó, ông được chọn đi học lớp cứu thương rồi trở thành nhân viên cứu thương trong Ban Y tế huyện Cái Bè. Một thời gian sau, Đặng Văn Nhị tiếp tục được cử đi học lớp đào tạo y tá do Ty y tế của tỉnh Mỹ Tho tổ chức. Sau khi trở thành y tá, ông lần lượt công tác tại cơ quan y tế huyện Cai Lậy rồi Ty y tế tỉnh Mỹ Tho.[5] Ngày 1 tháng 3 năm 1950, Đặng Văn Nhị gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, chính thức vào ngày 31 tháng 8 cùng năm.[6] Đến tháng 12 năm 1950, ông tình nguyện nhập ngũ và được giao nhiệm vụ làm Quân y xá trưởng Tỉnh đội Mỹ Tho.[5]

Từ năm 1951 đến năm 1954, sau khi lực lượng vũ trang của chính quyền cách mạng được thành lập ở toàn tỉnh Mỹ Tho, Đặng Văn Nhị cùng bệnh xá Tỉnh đội Mỹ Tho đã tham gia nhiều trận đánh với vai trò cứu thương.[7] Đến tháng 7 năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, ông theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc bằng tàu Kilinski do Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Ba Lan tài trợ.[8][9] Sau khi ra miền Bắc, tháng 12 cùng năm, Đặng Văn Nhị được cử đi học tại lớp quân y sĩ khóa 5 tại Trường Quân y sĩ, Cục Quân y.[10] Đến tháng 10 năm 1956, sau khi tốt nghiệp tại trường, ông trở thành người duy nhất được điều động về công tác tại khoa Phẫu thuật bụng của Viện Quân y 108.[11]

Năm 1956, đoàn chuyên gia y tế của Cộng hòa Nhân dân Bulgaria được Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch mời sang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với ý định ban đầu là giúp Bệnh viện Công nhân đường sắt thuộc Bộ Y tế. Tuy nhiên, Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn đã xin Trung ương cho đoàn chuyển sang giúp Viện Quân y 108. Nhiều bác sĩ trong đoàn đã được điều động về Viện Quân y 108 và được bổ nhiệm chủ nhiệm các khoa lâm sàng và cận lâm sàng mới được thành lập. Tuy đội ngũ cán bộ của viện đã được tăng về số lượng nhưng trình độ chuyên môn chưa đảm bảo để phục vụ trong một bệnh viện chuyên khoa.[12] Vì vậy, chủ nhiệm của các khoa còn có nhiệm vụ giảng dạy về lý thuyết lẫn thực hành cho đội ngũ cán bộ. Đặng Văn Nhị, vốn chỉ mới học hết lớp 5, đã hoàn thành chương trình học lớp 7 trong một thời gian ngắn và có được bằng tốt nghiệp cấp hai nhằm đáp ứng yêu cầu về kiến thức phổ thông.[13]

Trong thời gian đầu công tác tại khoa Phẫu thuật bụng, Đặng Văn Nhị làm nhiệm vụ phụ mổ.[13] Dưới sự chỉ dẫn của hai bác sĩ Nguyễn Xuân Ty và Vũ Duy Thanh, ông đã trở nên thành thạo hơn với vai trò phụ mổ và được tiếp cận với những ca phẫu thuật khó như cắt đoạn dạ dày, cắt nửa đại tràng,... Đến năm 1958, ông trở thành phẫu thuật viên chính trong nhiều ca phẫu thuật như cắt ruột thừa, phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn, khâu vết thủng dạ dày,... Dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Bulgaria, Viện Quân y 108 đã được tiếp cận với nhiều phương pháp điều trị mới mà ngành y tế của Việt Nam giai đoạn này chưa có điều kiện thực hiện.[14]

Hoạt động tại miền Nam

Năm 1959, sau khi Nghị quyết Trung ương 15 được thông qua, chủ trương đưa đội ngũ cán bộ quân y vào miền Nam phục vụ chiến đấu dần được thực hiện qua nhiều hoạt động bí mật.[15] Đặng Văn Nhị được đưa lên Cục Quân y để nhận nhiệm vụ "Đi du học tại Liên Xô". Tại cơ quan, ông được Chính ủy Nguyễn Hải Thanh và Cục trưởng Vũ Văn Cẩn giao nhiệm vụ vào miền Nam để công tác rồi được bổ sung vào đoàn cán bộ của Xứ ủy Nam Kỳ trở lại miền Nam.[16] Đến tháng 4 cùng năm, Đặng Văn Nhị nhận được lệnh tập trung để chuẩn bị lên đường, đoàn cán bộ Xứ ủy Nam Kỳ của ông, trong đó có Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô, sẽ hành quân bí mật theo đường dây giao liên mang tên Thống Nhất và khởi đầu từ Nhà khách Chính phủ với sự đưa tiễn của Phạm Hùng.[17]

Khi đến Kon Tum, Tỉnh ủy Kon Tum đã bố trí một đàn voi nhằm đưa đoàn sang tỉnh Kratié, Campuchia. Đoàn phải chia thành nhiều nhóm nhỏ để có cơ sở dẫn đường. Sau khi vượt qua biên giới tỉnh Tây Ninh và đến vùng Mỏ vẹt thuộc Campuchia, việc di chuyển gặp gián đoạn do bị bại lộ. Hầu hết các nhóm đều sang được Kratié ngoài nhóm của Đặng Văn Nhị và người phiên dịch tiếng Campuchia buộc phải ở lại rừng do lạc đường khi đàn voi đã trở lại Kon Tum.[18] Hai người đã phải sống trong rừng một thời gian dài trong hoàn cảnh cạn kiệt lương thực cho đến khi phát hiện được người sinh sống và được dẫn đường về Kon Tum trong tình trạng sốt rét nặng. Tháng 2 năm 1960, Đặng Văn Nhị cùng người phiên dịch ra đến Hà Nội theo đường dây của Khu ủy Khu 5. Ngay sau đó, ông đã phải đi điều trị chứng suy nhược cơ thể và suy nhược thần kinh do sốt rét gây ra tại Viện Quân y 108.[19]

Tháng 5 năm 1960, khi sức khỏe đã ổn định, Đặng Văn Nhị nhận được lệnh phụ trách một đoàn cán bộ quân y là người miền Nam tập kết trở lại miền Nam. Ngoài nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, đoàn cán bộ còn có nhiệm vụ tổ chức xây dựng ngành quân y cho chiến trường B2 của Trung ương Cục miền Nam.[19] Trước khi lên đường, các quân y sĩ trong đoàn đều phải đổi họ và tên theo quy định, Đặng Văn Nhị đã sử dụng bí danh "Đỗ Hoài Nam" trong thời gian này. Đến tháng 6 cùng năm, Đỗ Hoài Nam cùng đoàn cán bộ Trung ương với phiên hiệu Phương Đông 1 rời Hà Nội.[20] Sau khi đến địa phận của Lào, đoàn chia thành nhiều nhóm nhỏ để di chuyển dọc theo các cánh rừng ở phía tây dãy Trường Sơn dưới sự giúp đỡ của chính quyền địa phương.[21] Khi đến địa bàn tỉnh Gia Lai, việc di chuyển gặp gián đoạn do tuyến đường giao liên vào miền Đông Nam Bộ vẫn chưa được khai thông. Đồng thời tại thời điểm này, Luật 10-59 do chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành được thực hiện ở khắp miền Nam, vì vậy đoàn phải dừng chân tại Gia Lai và cải trang thành người Thượng để sinh sống cho đến khi liên lạc được với Chiến khu Đ.[22] Tuy nhiên, chiến khu này chưa mở được đường giao liên lên vùng Tây Nguyên nên Trung ương Cục miền Nam đã tổ chức một lực lượng mở đường để dẫn đoàn ra Khu 5 do Lâm Quốc Đăng chỉ huy.[23][24]

Đến tháng 10 năm 1960, khi đang tổ chức tìm đường vào Chiến khu Đ, đoàn Phương Đông 1 gặp được lực lượng của Trung ương Cục miền Nam tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận rồi cùng nhau di chuyển vào miền Đông Nam Bộ. Trong điều kiện lương thực dần cạn kiệt và thiết bị y tế ít ỏi của đoàn, Trung ương Cục đã chỉ đạo Ban Quân sự miền tổ chức lực lượng do Tám Lê Thanh chỉ huy viện trợ cho đoàn Phương Đông 1.[23] Đoàn cán bộ quân đội của Bộ Quốc phòng do Trần Văn Quang chỉ huy với mật danh Phương Đông 2 đã được điều động đến và cùng đoàn Phương Đông 1 về đến căn cứ của Trung ương Cục.[25] Đỗ Hoài Nam đã trở thành cán bộ quân y duy nhất hành quân bộ hai lần vào chiến trường miền Nam.[26]

Phục vụ tại các chiến trường

Năm 1961, sau khi Bệnh xá An ninh miền do Ban An ninh miền phụ trách được nâng cấp thành Bệnh viện 160, Đỗ Hoài Nam được phân công về công tác tại bệnh viện và được giao nhiệm vụ phụ trách bệnh viện sau một thời gian.[27] Tháng 12 năm 1964, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Bình Giã với sự tham gia của hai trung đoàn chủ lực. Đỗ Hoài Nam, với vai trò Chủ nhiệm quân y của Trung đoàn 1, đã trực tiếp chỉ huy đại đội quân y của trung đoàn tham gia trực tiếp việc cứu thương cho các chiến sĩ.[28] Đến năm 1965, Đỗ Hoài Nam tiếp tục chỉ huy đại đội quân y của Trung đoàn 1 tham gia chiến dịch Đồng Xoài.[29] Sau khi chiến dịch kết thúc, ông được tặng bằng khen của Bộ Tư lệnh miền.[30]

Tháng 12 năm 1965, sau khi Trường đào tạo bác sĩ quân y tại chiến trường B2 được thành lập, Đỗ Hoài Nam được cử đi học tại trường.[31] Đến năm 1967, ông trở thành đội trưởng của Đội phẫu thuật cơ động và dẫn đầu đội tham gia chiến dịch Junction City.[32] Năm 1968, khi đợt hai của chiến dịch Tết Mậu Thân vẫn đang diễn ra, Đỗ Hoài Nam nhận được chỉ thị trở về Trường đạo tạo bác sĩ quân y để tiếp tục học tập và tốt nghiệp vào cuối năm 1968. Sau khi tốt nghiệp, ông nhận công tác tại Phòng Quân y miền với chức danh Đội trưởng Đội phẫu thuật cơ động,[33] sau đó được bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Quân y K71. Sau khi Viện Quân y K71 được tách thành hai bệnh viện là K71A và K71B, Đỗ Hoài Nam trở thành Phó Viện trưởng Viện Quân y K71A và được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo các khoa ngoại xử lý, điều trị cho chiến sĩ sau chiến dịch Tết Mậu Thân.[34]

Năm 1970, Viện Quân y K72 được thành lập, Đỗ Hoài Nam trở thành viện trưởng của viện.[35] Từ năm 1970 đến năm 1973, ông đã cùng Viện Quân y K72 có mặt trên khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ với vai trò cứu thương.[36][37] Ngày 19 tháng 1 năm 1973, chiến dịch Nguyễn Huệ kết thúc, Hiệp định Paris được ký kết. Theo chỉ đạo của cấp trên, Phòng Quân y đã tách Viện Quân y K71 về trực thuộc Cục Hậu cần miền và xây dựng Viện Quân y K72 thành bệnh viện tuyến cuối về chấn thương chỉnh hình và là bệnh viện thực hành của Trường Bác sĩ quân y miền. Sau khi trở thành viện trưởng của bệnh viện tuyến cuối này, Đỗ Hoài Nam đảm nhận thêm vai trò giảng dạy chuyên môn cho các học viên của trường.[38]

Năm 1973, nhân dịp kỉ niệm 13 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và là năm đầu tiên Chính phủ Hoa Kỳ thực hiện lệnh rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tổ chức Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam.[39] Tại đại hội lần thứ ba tổ chức vào ngày 20 tháng 12, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng cho 20 cá nhân bao gồm ba cán bộ quân y là bác sĩ Đỗ Hoài Nam, bác sĩ Nguyễn Ngọc Đắc và y tá Nguyễn Thị E.[40] Đến năm 1974, Đỗ Hoài Nam, lúc này với quân hàm Thiếu tá, trở thành Phó Trưởng đoàn Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng ra thăm và báo cáo thành tích tại Hà Nội.[41]

Công tác tại Viện Quân y 175

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, lực lượng của Quân Giải phóng miền Nam được bố trí theo năm cánh quân tiến vào nội đô thành phố Sài Gòn dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, nhằm thực hiện mệnh lệnh của Trung tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn, nhiều sĩ quan và nhân viên của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã trở lại Tổng Y viện Cộng hòa để thực hiện cứu chữa cho lực lượng quân đội của cả hai chiến tuyến.[42] Ngày 10 tháng 5 năm 1975, đoàn cán bộ quân y do bác sĩ Đỗ Hoài Nam phụ trách khởi hành từ Hà Nội đã đến Sài Gòn. Nhằm đáp ứng yêu cầu cần có một cơ sở điều trị lực lượng thương bệnh binh từ các đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và tiếp quản Tổng Y viện Cộng hòa, ngày 11 tháng 5 năm 1975, Thiếu tướng Bùi Phùng, Cục trưởng Cục Hậu cần miền, đã ký quyết định thành lập Ban Tiếp quản Tổng Y viện Cộng hòa với sự tham gia của bác sĩ Đỗ Hoài Nam.[43] Đến ngày 13 tháng 5 cùng năm, sau khi ban hoàn thành việc tiếp quản, Tổng Y viện Cộng hòa được đổi tên thành Quân y viện Quân giải phóng.[44]

Cũng trong tháng 5 năm 1975, Đảng ủy của Phòng Quân y miền thành lập Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời và Ban Chỉ huy lâm thời Quân y viện Giải phóng, Đỗ Hoài Nam tham gia vào Ban Chấp hành Đảng bộ với vai trò ủy viên. Đến tháng 8 năm 1975, Quân y viện Giải phóng được đổi tên thành Viện Quân y 175,[45] Đỗ Hoài Nam trở thành Phó Viện trưởng của viện vào tháng 10 cùng năm.[44] Sau khi Bộ Tư lệnh miền và các cơ quan thuộc miền giải thể, Viện Quân y 175 trực thuộc Cục Quân y. Trong giai đoạn đầu hoạt động của bệnh viện, Đỗ Hoài Nam phải đồng thời chỉ đạo các khoa ngoại điều trị cho các thương bệnh binh và trực tiếp tham gia nhiều ca phẫu thuật trong tình trạng thiếu biên chế cán bộ chuyên môn.[46] Viện Quân y 175 tiếp tục gặp khó khăn khi Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn yêu cầu cho thôi việc một số lượng lớn viên chức đang công tác tại viện thuộc khối hành chính của Tổng Y viện Cộng hòa cũ.[47]

Năm 1977, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, Viện Quân y 175 trở thành bệnh viện tuyến đầu trong việc tiếp nhận thương bệnh binh.[45] Đỗ Hoài Nam tiếp tục công việc phẫu thuật với lịch trình dày đặc, đặc biệt, ông đã tiếp nhận công việc mổ chính trong hai ca phẫu thuật lồng ngực nặng.[48] Sau thành công của hai ca phẫu thuật này, Đỗ Hoài Nam đã được nhiều bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh mời về giúp đỡ trong những ca phẫu thuật phức tạp.[49] Từ năm 1984 đến năm 1986, Viện Quân y 175 tiếp tục tiếp nhận số lượng lớn thương bệnh binh từ các đơn vị của Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Đỗ Hoài Nam không chỉ trực tiếp phẫu thuật chính mà còn tham gia chỉ đạo và cùng tham gia phẫu thuật với các bác sĩ tại bệnh viện.[50][51] Năm 1986, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục Quân y.[52] Năm 1988, trên cương vị Phó Cục trưởng Cục Quân y kiêm Phó Viện trưởng Viện Quân y 175, Đỗ Hoài Nam đã dẫn đầu đoàn cán bộ bệnh viện lên Đà Lạt để giúp Học viện Lục quân giải quyết vụ tai nạn giao thông làm thương vong với số lượng lớn.[53]

Giai đoạn cuối đời

Ngày 23 tháng 3 năm 1989, Đại tá Đỗ Hoài Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký quyết định phong tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân.[54] Sau đó, ông nhận nhiệm vụ phụ trách đoàn cán bộ của Cục Quân y phối hợp với đoàn công tác của Bộ Y tế trực tiếp kiểm tra công tác phòng chống sốt rét tại Quân khu 5, Quân khu 7 và Quân khu 9.[55] Cùng năm, ông tiếp tục dẫn đoàn công tác thực hiện kiểm tra tại các bệnh viện thuộc ba quân khu này cùng với Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4.[56] Trong giai đoạn này, Đỗ Hoài Nam được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Quân y 175, sức khỏe của ông cũng dần suy giảm, đến tháng 12 năm 1989, ông mới chính thức điều trị căn bệnh hiểm nghèo tại Viện Quân y 175.[57]

Ngày 3 tháng 7 năm 1990, Đỗ Hoài Nam được thăng quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và được trao tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.[58][59] Ông trở thành vị cán bộ quân y đầu tiên của Viện Quân y 175 được thăng quân hàm tướng.[60] Đến ngày 23 tháng 8 năm 1990, Đỗ Hoài qua đời ở tuổi 58. Tang lễ của ông được tổ chức tại Viện Quân y 175 với sự tham dự của các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn