Đoàn Đình Duyệt
Ông là vị quan liêm khiết, có tinh thần yêu nước, thương dân

Đoàn Đình Duyệt sinh năm 1862 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Đào Lãng, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là thôn Đào Lạng, xã Văn Hội, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ngay từ nhỏ, Đoàn Đình Duyệt đã bộc lộ tư chất thông minh, nhanh nhẹn, hoạt bát, chăm chỉ. Cha mất sớm, Đoàn Đình Duyệt phải ở với bác ruột, chăn trâu, cắt cỏ, tham gia công việc đồng áng. Một lần, để trâu ăn lúa, cậu bé Duyệt bị đánh đòn, đành bỏ nhà ra đi, vào Bến Trại (thuộc xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) rồi lên thuyền theo dòng sông Luộc. Sau đó Đoàn Đình Duyệt gặp được người tốt đón về nuôi, cho ăn học đến khi trưởng thành.
Vào năm thứ 1 triều Đồng Khánh (1885), ông Đoàn Đình Duyệt bắt đầu sự nghiệp hành chính, vào ngạch nhà nước tại chính quyền tỉnh Nghệ An, ba năm sau lên chức Kinh lịch, hết thời gian tập sự, được giao chức Tri huyện và Tri phủ.[3] Tháng 10 năm Quý Mão (1903), ông làm Thương biện tỉnh Nghệ An sung Đốc biện đường bộ; Tháng 12 năm Đinh Mùi (1908) làm Bố chánh tỉnh Nghệ An. Đến tháng 10 năm Canh Tuất (1910) từ thay quyền Tổng đốc Lãnh Tuần phủ Quảng Ngãi, ông được thăng quyền Lãnh Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh). Tháng 6 năm Ất Mão (1915) được thăng chức Tổng đốc Bình Phú (Bình Định và Phú Yên). Sau 31 năm làm việc với các chức vụ nói trên tại địa phương, năm Duy Tân thứ 10 (1916), tháng 2, ông được điều về Huế thay quyền Hiệp tá Đại học sĩ, thăng chức Thượng thư Bộ Hộ (Bộ Tài chính), sung làm Phụ chính Đại thần. Đến tháng 4 năm Bính Thìn (1916), vua Duy Tân bị phế, vua Khải Định lên ngôi đã lớn tuổi nên không cần hội đồng Phụ chính, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, đến tháng 8 thì sung Cơ mật viện Đại thần, tấn phong tước Ninh Lãng nam. Tháng 2 nhuận năm Đinh Tỵ (1917) ông chính thức nhậm chức Hiệp tá Đại học sĩ, điều làm Thượng thư Bộ Công, kiêm Bộ Binh, kiêm quản Đô sát viện, vẫn giữ vị trí Cơ mật viện Đại thần. Đến tháng 7 năm Tân Dậu (tức tháng 8 năm 1921) ông bị giáng 2 cấp bậc (xuống Tuần phủ), thu hồi tước Nam và cho về hưu vì phạm tội. Đến năm Khải Định thứ 9, nhân dịp Tứ tuần Đại khánh của vua Khải Định[4] (tháng 9 năm 1924), ông đã được khôi phục chức tước cũ (Hiệp tá Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Công, Ninh Lãng nam) đồng nghĩa với việc ông được tăng mức hưu bổng. Ngày 31 tháng 01 năm 1929, ông qua đời tại Ninh Giang, tỉnh Hải Dương



