Đoàn xã KC 82
Lá cờ máu thiêng liêng và câu nói “Chiến đấu đi, thằng bạn”!
Từ nhỏ đã sống trong máu lửa bom đạn, sống trong cảnh mồ côi vì cha mẹ đã hy sinh trong các trận chiến khốc liệt của chiến tranh. Nên từ nhỏ cậu bé Trần Xuân Thu (SN 1926, trú tại thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) dũng cảm xin làm người liên lạc đồng thời phụ giúp đưa dầu, cung cấp giấy cho bộ đội ta khi chưa tròn 10 tuổi. Vừa làm nhiệm vụ vừa chăm sóc đứa em trai nhỏ. Vì tính tình lanh lợi, thông minh lại dẻo dai nên mọi nhiệm vụ được giao dù xa hay gần, đường đi có trắc trở, nguy hiểm đến mấy cậu đều xuất sắc hoàn thành.“ Ban đầu tôi làm nhiệm vụ thì khá suôn sẻ vì tôi thuộc địa hình ở đây. Cùng với đó thân hình tôi lúc đó gầy gò nhưng nhanh nhẹn, khuôn mặt lại non nớt. Lỡ không may bị địch phát hiện cũng chỉ nghĩ đứa trẻ non nớt nên không nghi ngờ gì mà cho đi. Năm khoảng 17 tuổi, trong lúc đi làm nhiệm vụ ở Khe Sanh, Quảng Trị tôi bị địch phát hiện đuổi bắt ráo riết. Đạn từ phía địch sợt qua đầu và một viên trúng bắp chân không đi tiếp được nên tôi liều đứng dậy quăng quả lựu đạn cuối cùng trong người về phía địch rồi lăn xuống vách núi. May được một vài người dân tộc đi rẫy thấy và kịp thời cứu giúp”, ông Thu vừa kể vừa cho xem những vết thương năm nào.
Sau đó, ông đi góp dầu, nấu ăn làm nhiệm vụ hậu cần cho đơn vị. Đến năm 1947 thì chuyển công tác đến huyện Hải Lăng,Quảng Trị chiến đấu. Khi đó là lúc thực dân Pháp dốc toàn lực lượng bình định Quảng Trị với ý đồ chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” tiêu diệt Việt Minh trong thời gian ngắn nhất. Chúng chiếm giữ nhiều vị trí trung tâm, đầu mối giao thông các huyện thuộc phía Tây và Nam Quảng Trị.
Sau đó một năm, cũng là năm đau thương nhất khi thực dân Pháp 2 lần ném bom và tàn sát đẫm máu hàng trăm người dân vô tội trong đó có cả phụ nữ và trẻ em. Ông được chỉ huy giao đến đây để giải quyết hậu quả khủng khiếp, man rợ mà thực dân Pháp gây ra. Ông và đồng đội trong đơn vị như người mất hồn không khỏi rớt nước mắt trước cảnh tượng hoang tàn, chết chóc đau khổ. Người thì chết cháy, chết với đủ mọi tư thế, mọi nơi đều là máu và xác người. Cả một ngôi làng chỉ còn lại mười mấy người may mắn sống sót.Ông cho biết: “ Trong những năm tháng chiến đấu, đau buồn nhất là chứng kiến những cảnh éo le, man rợ kia. Cả ông và đồng đội dâng lên quyết tâm trả thù, quyết tâm chiến đấu với bọn giặc mất tính người đến cùng để giành lại sự bình yên cho mọi người, gia đình và đất nước”.
Năm 24 tuổi ông chuyển đơn vị đến xã Tân Lịch, huyện Gio Bình, Quảng Trị. Thời gian chiến đấu tại đây ông đã gặp bà Đỗ Thị Mai (SN 1934) rồi nên duyên vợ chồng. Đám cưới ông bà cũng được đơn vị tổ chức đơn giản với vài miếng cầu trau. Đến năm 1954 những đứa con của ông còn nhỏ thì ông được điều động tập kết ra miền Bắc cùng đơn vị để chuẩn bị cho trận đánh Điện Biên Phủ với Thực dân Pháp.
Chân ướt chân ráo ra miền Bắc chưa được bao lâu thì ông cùng đơn vị được điều động lên chiến đấu ở biên giới Tây bắc với giặc Pháp. Tại đây, ông gặp người bạn tên Văn ở cùng quê. Ông và người đồng đội cùng quê thường xuyên chiến đấu, chia sẻ nỗi nhớ gia đình với nhau. Năm 1954 trong một trận đánh của Chiến dịch Điện Biên Phủ người bạn tên Văn của ông bị trúng đạn dẫn đến thương tích nghiêm trọng rồi tử trận tại tỉnh Atopo (Lào). Trước khi ra đi người đồng đội ấy lấy ra một lá cờ đỏ sao vàng đã nhuốm máu. Đó là vật thiêng liêng mà người bạn của ông Thu được chỉ huy tặng trước lúc ra trận. Lá cờ thiêng liêng đó đã được người bạn trao lại cho ông Thu cùng câu nói không thể nào quên: “Chiến đấu đi, thằng bạn”.“ Trước lúc hy sinh anh ấy vẫn còn nghĩ đến đất nước thế đó. Lá cờ đó đã nhuốm máu của anh ấy và tôi sẽ giữ nó mãi bên mình”, ông nghẹn ngào chảy dài dòng nước mắt cầm chặt lá cờ trong tay khi nhớ đến người đồng đội của mình. Khắc ghi câu nói của đồng đội ông Thu đã lấy lá cờ bỏ trước ngực rồi tiếp tục chiến đấu.
Sau khi chiến đấu tại chiến trường miền Bắc đến khi đánh thắng giặc Pháp ông quay trở về đơn vị cũ thì những trận đánh đã lấy đi của ông quá nhiều đồng đội. Rồi ông quay trở về quê hương với những kỉ vật đồng đội cùng quê đã hy sinh trao lại cho ông cùng bao nỗi niềm. Riêng lá cờ của người đồng đội đã hy sinh luôn được ông cẩn thận treo ở nơi trang trọng trong nhà và xem như một kỷ vật quý.



