Bài viết

Đốc Tít

Hải Phòng18/08/2026xã Trường Xuân (Xã Trường Xuân)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đốc Tít (Nguyễn Đức Hiệu) sinh năm 1853, quê ở An Lưu Thượng, huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, hiện nay là thị trấn Kinh Môn (Hải Dương). Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông là một thủ lĩnh kiên cường lập nhiều chiến công gắn liền với căn cứ Hai Sông (Kinh Thày và Kinh Môn) cùng với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892).

Năm 1882, ông chiêu mộ nghĩa quân chống lại thực dân Pháp, lập căn cứ tại làng Trại Sơn, một địa điểm ở chân núi đá vôi hiểm trở, bốn bề sông nước, nằm lọt trong một địa thế giao thông quan trọng hình tam giác là Hải Phòng – Phủ Kinh Sơn – Hải Dương. Phía Bắc có sông Kinh Thày, phía Nam và phía Tây có sông Hán và sông Con. Tại căn cứ này nghĩa quân tỏa ra hoạt động ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Yên. Có lần ông cùng Nguyễn Thiện Thuật (thủ lĩnh cao nhất của nghĩa quân Bãi Sậy) diệt trừ nạn cướp ở phủ Kiến Thụy (Hải Phòng) và Cẩm Giàng, ông được triều đình phong chức Quản tinh binh suất đội, rồi chức Cấm suất đội.

Năm 1883, thực dân pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai và đặt ách thống trị tại đây, trước cảnh triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, ông càng nung nấu ý chí chống Pháp đến cùng. Quân Pháp mấy lần tấn công căn cứ Hai Sông nhưng đều bị thất bại. Cuối năm 1884, ông chỉ huy nghĩa quân Trại Sơn đánh bật một tiểu đoàn lính Pháp tấn công căn cứ (vùng giáp ranh phía nam căn cứ Hai Sông), gây thiệt hại nặng cho địch, buộc quân Pháp phải tháo chạy. Khi ông hoạt động tại căn cứ Hai Sông, ông thu thuế trong vùng để nuôi nghĩa quân, tích trữ nhiều vũ khí, quân nhu trong hang đá. Nhờ đó nghĩa quân chiến đấu được nhiều năm. Bên cạnh sự giúp đỡ của nhân dân, nghĩa quân còn chủ động chuẩn bị về lương thực bằng cách tham gia sản xuất với nông dân, dựa vào các lũy tre làng đào hào đắp lũy, tổ chức chống giặc càn quét và bảo vệ lực lượng. Vũ khí của nghĩa quân tự trang bị là chính, ngoài những vũ khí thô sơ như: giáo, mác, mã tấu, đinh ba, gậy gộc…nghĩa quân còn sản xuất được loại súng theo mẫu súng của quân Pháp.

Năm 1885, sau khi có chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật phát triển rộng lớn, lan ra hầu hết các tỉnh đồng bằng, một phần miền núi và duyên hải. Hào kiệt các nơi theo về rất đông như: Tiến Đức ở đảo Cát Bà, Lưu Kỳ ở Lục Nam… Trước tình thế đó nghĩa quân của ông cũng ra nhập với nghĩa quân Bãi Sậy. Tháng 10 năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho ông chức Đề đốc Quân vụ Hải Dương nên người dân đương thời gọi ông là Đốc Tít.

Ngày 30 tháng 11 năm 1885, thực dân Pháp do Phan-công (Falcon) và Phô-rơ (Faure) chỉ huy, mở đợt tấn công có quy mô vào căn cứ Trại Sơn. Chúng bắn đạn bác dọn đường, rồi công binh, bộ binh theo sau. Nghĩa quân chiến đấu rất ngoan cường, gây thiệt hại nặng cho quân Pháp. Tháng 9 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật trực tiếp chỉ huy nghĩa quân tấn công chiếm lại thành Hải Dương rồi tỏa ra đóng giữ các làng xung quanh. Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến ngày 11 tháng 12 năm 1885, nghĩa quân chủ động rút khỏi Trại Sơn về lập căn cứ mới tại khu Cù Lao Hai Sông – một địa điểm nằm trong địa bàn tiểu quân khu Hải Phòng của quân Pháp. Từ đó nghĩa quân hoạt động mạnh ở vùng này. Bên cạnh những hoạt động chống càn quét, nghĩa quân còn tập tổ chức nhiều trận tập kích đạt hiệu quả cao. Ngày 26 tháng 6 năm 1886, nghĩa quân tấn công đồn bốt Pháp ở Cầu Đuống, ngày 10 tháng 7 năm 1886 nghĩa quân của Đốc Tít tấn công đồn Đông Triều, ngày 11 và 12 tháng 9 năm 1888, nghĩa quân tấn công đồn Uông Bí…và thu được nhiều thắng lợi lớn.

Tháng 7 năm 1889, Pháp tập trung binh lực bao vây và tấn công Trại Sơn là đại bản doanh của nghĩa quân Hai Sông. Theo lệnh của thực dân Pháp, Tổng đốc Hải Dương Hoàng Cao Khải điều 1.500 binh lính tấn công cứ điểm Hai Sông rất ác liệt. Quân địch chia thành 4 đạo, vây chặt căn cứ trung tâm, rồi dùng tàu bè đi tuần tiễu ngày đêm trên các ngả sông quanh căn cứ. Quân địch thắt chặt vòng vây, tăng cường truy quét và khủng bố nhân dân.

Trong suốt một tháng, địch tấn công liên tiếp, nhờ dựa vào thế núi hiểm trở, nghĩa quân nhiều lần đánh địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên trong quá trình chiến đấu, nghĩa quân cũng đã bị hi sinh, lương thực, đạn dược cũng cạn dần, lực lượng ngày càng giảm sút. Trong khi đó địch càng thắt chặt vòng vây. Trước tình thế nguy hiểm, Đốc Tít cho giải tán nghĩa quân. Ngày 12 tháng 8 năm 1889, ông bị địch bắt, quân Pháp bắt ông đi đánh nghĩa quân của Đề Thám những ông không chấp nhận. Tháng 1 năm 1890, thực dân Pháp đày ông sang Angiêri. Ở đây ông đã nhiều lần viết thư lên Chính phủ Pháp đòi ân xá nhưng không thành và ông mất tại Angiêri năm 1916.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đốc Tít là một thủ lĩnh kiên cường, lãnh đạo nghĩa quân lập nhiều chiến công gắn liền với căn cứ Hai Sông, là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ cuối thể kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa đã để lại nhiều bài học bổ ích, nhất là về phương thức hoạt động và các hình thức tác chiến “du kích” của nghĩa quân ở một vùng đồng bằng đất hẹp người đông.

Lê Thị Huệ(Phòng Tư liệu-Thư viện)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia


Chia sẻ:

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn