Đồng chí Cảnh
Cựu chiến binh Bùi Văn Cảnh.
Vào buổi trưa mùa đông tháng 1, Đoàn phường Lê Thanh Nghị tới thăm ông Cảnh, sinh năm 1944, quê cũ nằm tại xã Hải Quang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nay thuộc xã Hải Quang, tỉnh Ninh Bình. Người chiến sỹ hải quân thuộc “Đoàn tàu không số 125”, là đơn vị số 1 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đến tháng 2 năm 1964, ông tham gia nghĩa vụ quân sự, lúc ấy miền Bắc vẫn đang trong thời điểm yên bình, ông thuộc người con của biển cả từ đời cha ông, nhà nước đã ưu tiên tuyển chọn những người qua ngạch sông nước, chính vì vậy ông đã được tham gia một trong những “Đoàn tàu” thuộc cấp độ bí mật quốc gia với nhiều tình tiết đến giờ vẫn chưa được công bố. Ông vinh dự được tham gia Hải quân so với các bạn đồng trăng lứa, việc lựa chọn tuyển quân của các đồng chí lãnh đạo giúp cho chi phí đào tạo được giảm đi; ông được huấn luyện xong ở F172 thì đã chuyển ngay thẳng về “Đoàn tàu không số”. Ông được đào tạo khóa K35, bấy giờ gọi đi B, học xong thành lập 2 Tiểu Đoàn đa số các chiến sỹ tang cường cho miền Nam để vào xây dựng các căn cứ để tiếp đón vũ khi của miền Bắc đưa vào - một trong những nhiệm vụ rất quan trọng; lúc ấy chiến trường trên biển vẫn chưa còn khắc nghiệt. Sau khi đồng đội đi rồi được giữ lại 18 đồng chí ở lại chưa biết làm gì, thực ra ở lại để biên chế cho các con tàu mà từ trong miền Nam đưa ra, nên phải chờ những con số của từng tàu thì mới được đi. Bầy giờ làm lính, nhiệm vụ của các ông đào tạo sủ dụng thành thạo các loại vũ khí được trang bị trên con tàu. Hỏa lực mạnh nhất có SKZ - bây giờ gọi DKZ - khẩu trọng liên 12 ly 7, có cả các loại vũ khí trọng liên, trung liên hiện đại nhất lúc bấy giờ được trang bị trên con tàu, sau khi thành thạo rồi mới được đưa xuống tàu làm nhiệm vụ. Ông tự hào khi được xuống tàu T110 - con tàu 100 tấn do thuyền trưởng tên Võ Hán - người Nam Định làm thuyền trưởng, sau đó sang tàu T403 và cuối cùng sang T07 với nhiệm vụ được giao Bí mật quốc gia nên được Trung Ương Đảng, Bác Hồ, quan tâm nhất có đại tướng Võ Nguyên Giáp. Việc được nhận nhiệm vụ đã hứa với Đảng, Bác Hồ và nhân dân đồng bào miền Nam sẽ làm thế nào thật tốt chở thật nhiều vũ khí vào chiến trường cho mặt trận miền Nam - lời hứa son sắt như vậy. Cuối cùng đúc kết lại chiến lược của đơn vị “Bí mật - Táo bạo - Bất ngờ - Kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ” – chỉ có 12 chữ như vậy, trên các tàu có rất nhiều người mang theo những ngành nghề khác nhau giáo dục, y tế, chiến sỹ, cán bộ, … theo lý tưởng của Đảng, qua sự đào tạo từ cuộc cách mạng như vậy, làm sao khi vũ khí đã được chuẩn bị xong, nhiệm vụ mới đã giao được đi cứ thế mà đi thôi.
Nói về nhân chứng, “Đoàn tàu không số” 125 sau này mới đổi tên thành Đường Hồ Chí Minh trên biển, kể về nhân chứng gọi điển hình nhất, được khen thưởng về trí tuệ thông minh để thực hiện nhiệm vụ lúc bấy giờ xảy ra. Con tàu T07 khi ấy chỉ có 50 tấn - đóng giả con tàu chở cá mắm dân biển của các đảo chở về đất liên cho các Xí nghiệp chế biến nước mắm. Ngày 8/5/1966, rạng sáng khoảng 4h30 có lệnh xuất phát về căn cứ tiếp nhận vũ khí, trên đường đi được khoảng 40 - 50 phút bất ngờ gặp 6 con máy bay F4 thuộc Không quân và Hải quân của Mỹ, trận đánh diễn ra rất nhanh, triển khai thành 3 tầng từ 6 con F4 của địch. Như thế, nhiệm vụ của Pháo thủ mạnh nhất bên ta để bắn 6 chiếc F4, trong đó có 4 chiếc đảo thuyền nhằm đánh lừa tay sung của ta, còn 2 chiếc của chúng đứng im chủ động bắn vào mình, tiếp tục các hỏa lực bắn thẳng. Nói như vậy, con tàu của chúng ta trang bị không phải để phòng không bắn máy bay mà chỉ tự vệ, bảo vệ con tàu ở dưới biển. Sau đó, tàu bị 2 quả tên lửa bắn vào và bốc cháy dữ dội, bốc cháy xong nó không quay lại bắn tiếp mà chỉ xem xét tình hình cháy rồi bỏ đi thôi. Thuyền trưởng khi ấy lệnh cho các thuyền viên nhảy tàu nhằm giữ tính mạng cho lực lượng, trên đó ông ở Phảo thủ Giầu 1, quan sát anh em cứ 1 tốp 3 người nhảy khỏi lượt, mỗi người 1 cái phao, còn lại trên tàu còn ông là 1, Pháo thủ số 2 Phạm Minh Sắm - Thủy thủ trưởng hỏa lực cùng bên với ông. Sau khi anh em bộ đội xuống an toàn rồi, có lệnh tiếp tục cho Phạm Minh Sắm và Bùi Văn Cảnh nhảy tùa, ông Phạm Minh Sắm nhảy trước, con tàu bắt đầu cháy và chìm dần dần, ông thuyền trưởng tên Trần Văn Dạt nhảy tiếp thứ 2, ông lại không nhảy được, mà cứ ôm ụ pháo, xuống nước cứ gào thét và cũng không hiểu sao không nhảy được. Khi con tàu chìm dựng đứng như một con ngựa bất kham, nước vào thì cơ hội ấy ông rời tay vị trí ụ pháo, né con tàu đang chìm và rơi xuống biển. Xuống biển rồi, nhiệm vụ tiếp theo trước khi bơi đi phải kiểm tra bí mật con tàu còn gì tiết lộ không, kiểm tra rất kỹ đã không còn gì.
Trong cái biển lửa như ấy, ông nhìn thấy có một chiến sỹ thoi thóp, ông đã lặn vào để cứu đồng đội, lần thứ nhất không được vì cứ trôi như con vịt lặn; trong lần thứ 2 khua tay đã cùa được một liệt sĩ, anh này tên Nguyễn Thế Hiển - y tá, khi kéo anh ra và lật mặt anh lên thì thấy anh bị vỡ đầu, biến dạng mặt chết. Sau đó nhanh chóng ông kéo đồng đội ra và hướng vào thuyền trường, nhìn lại thuyền trưởng bơi ra còn mỗi cài đầu nổi lên trên mặt biển, phía xa xa kia thì còn một cái phao, ông cố gắng kéo liệt sĩ ra lại cái phao để quay lại thuyền trưởng vì biết ông còn nổi đầu còn bơi được. Kéo được cái phao vào đưa cho ông thuyền trưởng, ông người Nam Bộ rất to cao, ông rất nặng phải tầm 85 - 90kg, ông bám cào cái phao mà cái phao vẫn chìm.
Trong không khí thân tình, thế hệ trẻ đã được nghe ông kể lại những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng, những chiến công thầm lặng góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Những câu chuyện thời hoa lửa không chỉ khơi dậy niềm tự hào, mà còn hun đúc ý chí, tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ hôm nay trên con đường dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.
Hoạt động là một phần trong đề án tuyên truyền các câu chuyện thời hoa lửa, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho đoàn viên, thanh niên phường.
Tuổi trẻ Lê Thanh Nghị nguyện tiếp nối truyền thống cha anh, sống xứng đáng với máu xương của các thế hệ đi trước, quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.



