Đồng chí Huỳnh Phan Hộ
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mỗi vùng đất luôn sản sinh những con người mang tầm vóc của chính mảnh đất quê hương họ. Nếu Hà Nội có những trí thức cách mạng dẫn dắt phong trào, Huế có những thanh niên nhiệt huyết trong phong trào Duy Tân, thì ở miền Tây Nam Bộ – nơi sông nước bao la, lòng người hào sảng – xuất hiện những chiến sĩ kiên trung, thầm lặng mà kiên cường. Trong số ấy, Huỳnh Phan Hộ là gương mặt tiêu biểu. Cuộc đời ông là minh chứng cho sức mạnh của lòng yêu nước, của ý chí bề

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mỗi vùng đất luôn sản sinh những con người mang tầm vóc của chính mảnh đất quê hương họ. Nếu Hà Nội có những trí thức cách mạng dẫn dắt phong trào, Huế có những thanh niên nhiệt huyết trong phong trào Duy Tân, thì ở miền Tây Nam Bộ – nơi sông nước bao la, lòng người hào sảng – xuất hiện những chiến sĩ kiên trung, thầm lặng mà kiên cường. Trong số ấy, Huỳnh Phan Hộ là gương mặt tiêu biểu. Cuộc đời ông là minh chứng cho sức mạnh của lòng yêu nước, của ý chí bền bỉ, và của bản lĩnh người Nam Bộ trong buổi đầu cách mạng còn non trẻ nhưng đầy quyết liệt. Không khuất phục trước mọi hiểm nguy, không dao động trước những tổn thất, ông đã góp phần tạo nên diện mạo của phong trào cách mạng Cần Thơ – Tây Đô trong thời khắc sôi sục của Tổng khởi nghĩa năm 1945 và những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Huỳnh Phan Hộ, tên thật Phan Trọng Hộ, sinh ra tại vùng Bãi Xàu, Sóc Trăng. Nơi ông sinh trưởng là một vùng đất trù phú, giàu truyền thống yêu nước, nhưng đồng thời cũng hằn sâu những dấu vết đau thương của ách cai trị thực dân. Tuổi trẻ của ông không trải trên con đường học vấn thênh thang; trái lại, ông từng bị trục xuất khỏi trường vì đánh lại thầy giáo người Pháp – một sự kiện tưởng chừng vụng dại của tuổi trẻ nhưng lại ẩn chứa mầm mống phản kháng, cho thấy trong ông đã sớm hình thành tinh thần chống áp bức.
Sau khi rời trường học, Huỳnh Phan Hộ làm công việc quản lý đồn điền – tưởng chừng là nơi yên ổn, nhưng lại giúp ông tiếp xúc trực tiếp với đời sống bị bóc lột của người nông dân và lao động. Từ đó, ý thức về công lý và tự do càng trở nên rõ rệt, hun đúc ý chí đứng vào hàng ngũ của cách mạng.
Nếu nhân dân cả nước hướng về Hà Nội ngày 19/8/1945 như một mốc son chói lọi, thì ở miền Tây Nam Bộ, Cần Thơ – Tây Đô rực lửa cách mạng – lại chứng kiến sự trưởng thành của một vị chỉ huy trẻ tuổi: Huỳnh Phan Hộ.
Theo tài liệu từ Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ, vào ngày 26/8/1945, tại một cuộc mít tinh lớn ở Cần Thơ, Huỳnh Phan Hộ thay mặt Ủy ban Dân tộc Giải phóng đọc lời hiệu triệu, kêu gọi nhân dân vùng lên giành chính quyền. Bằng giọng nói mạnh mẽ, bằng sự thuyết phục của một con người hiểu dân và sống cùng dân, ông đã đưa quần chúng vào cao trào.
Không chỉ giữ vai trò diễn thuyết, Huỳnh Phan Hộ còn là người trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang, tổ chức “xung phong đội” bảo vệ đoàn biểu tình, đồng thời áp lực chính quyền cũ phải giao nộp vũ khí, giúp phong trào giành chính quyền diễn ra nhanh chóng, gọn gàng, ít đổ máu.
Sau thắng lợi, ông lập tức chỉ đạo thu gom súng đạn từ đầu hàng của quân đội địch và từ các nhà giàu trong vùng để trang bị cho lực lượng cách mạng còn non trẻ. Những việc làm ấy cho thấy: Huỳnh Phan Hộ vừa là nhà chính trị, vừa là nhà quân sự, vừa là người cổ động quần chúng – hội tụ đầy đủ tố chất của một thủ lĩnh Nam Bộ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Chính trong giai đoạn ấy, tài năng tổ chức quân sự của Huỳnh Phan Hộ được bộc lộ trọn vẹn. Ông cùng các đồng chí xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng căn cứ kháng chiến, củng cố thế trận du kích bao phủ vùng sông nước miền Tây.
Tháng cuối năm 1945 – đầu 1946, Khu 9 được thành lập để chỉ huy toàn bộ kháng chiến Tây Nam Bộ. Huỳnh Phan Hộ được giao vị trí Khu bộ phó, rồi nhiều giai đoạn trở thành người chỉ huy tối cao tại mặt trận Cần Thơ – Sóc Trăng – Hậu Giang.
Ông chỉ đạo xây dựng phòng tuyến, phối hợp với các chỉ huy như Trần Văn Hoài tổ chức hàng trăm trận đánh du kích lớn nhỏ, tiêu hao quân địch, thu vũ khí, duy trì thế chủ động cho cách mạng. Chính ông đã quán triệt phương châm nổi tiếng của chiến trường Nam Bộ: “Bám đất – bám dân – bám địch, lấy vũ khí của địch để đánh lại chính chúng.”
Trong những năm tháng gian khổ ấy, Huỳnh Phan Hộ không chỉ là một tướng lĩnh gan dạ, mà còn là một người lãnh đạo nhân văn. Tư liệu của Ban Tuyên giáo Cần Thơ cho biết: ông từng can thiệp thả một số địa chủ sau khởi nghĩa, vận động họ hợp tác với chính quyền cách mạng, đóng góp ruộng đất để lập trường học và nuôi dạy trẻ em nghèo. Điều đó thể hiện rõ triết lý lãnh đạo: cách mạng là của nhân dân, cho nhân dân – và phải dựa vào nhân dân.
Cuối năm 1946–1947, trong bối cảnh chiến sự ác liệt, Huỳnh Phan Hộ trở thành linh hồn của nhiều chiến dịch quan trọng tại Khu 9, đặc biệt tại mặt trận Tầm Vu. Sau một trận chiến quyết liệt, ông anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương lớn trong lòng đồng bào miền Tây Nam Bộ, nhưng đồng thời cũng để lại một biểu tượng sáng mãi về tinh thần chiến đấu quả cảm.Về sau, Đảng và Nhà nước truy phong ông quân hàm Thiếu tướng, ghi nhận những đóng góp xuất sắc của ông đối với phong trào cách mạng ở Nam Bộ.
Huỳnh Phan Hộ không phải một người làm nên kỳ tích trong lặng lẽ, mà là một trong những chiến sĩ đã mở đường cho sức mạnh của phong trào cách mạng miền Tây. Ở ông hội tụ: tư duy chiến lược sắc bén, biết vận dụng địa hình sông nước vào chiến tranh du kích, khả năng vận động quần chúng, gắn bó sâu sắc với người dân, đạo đức của người cách mạng, cương trực nhưng khoan hòa và tinh thần dấn thân, dám đứng ở tuyến đầu trong những thời khắc nguy nan nhất của lịch sử.
Ngày nay, khi nhìn lại lịch sử quê hương Tây Nam Bộ, chúng ta không thể không nhắc đến Huỳnh Phan Hộ như một biểu tượng của ý chí bất khuất, của trái tim yêu nước nồng nàn và của tấm gương thanh niên dám đứng lên khi Tổ quốc cần. Cuộc đời ông nói với thế hệ trẻ hôm nay rằng :”Không có hy sinh nào là vô nghĩa khi nó được đặt vì độc lập của dân tộc”


