Đồng chí Lê Đức Thọ - Tấm gương người cộng sản kiên trung (1)
Đồng chí Lê Đức Thọ là một trong những chiến sỹ cách mạng tiền bối thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhà lãnh đạo tài năng, bản lĩnh sáng tạo, người cộng sản mẫu mực, người học trò tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí là tấm gương sáng của người cộng sản kiên trung, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân.
GIỮ VỮNG LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂNTrong thời kỳ hoạt động bí mật, đồng chí Lê Đức Thọ đã tích cực hoạt động cách mạng và hai lần bị thực dân Pháp bắt, giam cầm, tra tấn dã man. Trải qua 11 năm bị giam cầm trong các lao tù khắc nghiệt của thực dân Pháp, từ Nam Định, Côn Đảo, Hà Nội, Sơn La, Hòa Bình, đồng chí đã kiên cường vượt qua mọi thử thách, giữ vững ý chí, tinh thần cách mạng. Đồng chí cùng các bạn tù chính trị đã biến lao tù đế quốc thành nơi trui rèn ý chí, nghị lực của người cộng sản, thành trường học cách mạng. Đối với đồng chí, “khó khăn lớn nhất”, “thử thách lớn nhất” “trước sự tra tấn hết sức dã man của kẻ thù” không phải là giữ tính mệnh của mình mà chính là “để giữ được cơ sở cách mạng” (1). Thoát khỏi ngục tù đế quốc (tháng 9/1944), đồng chí lại tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng và trở thành một trong những người lãnh đạo chủ yếu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khichính quyền cách mạng ra đời, ngay từ ngày đầu lập nước, đồng chí Lê Đức Thọ đã góp phần quan trọng vào việc giúp Trung ương bố trí, phát triển lực lượng Đảng, đoàn thể, xây dựng chính quyền cách mạng nhằm bảo đảm giữ vững và phát huy thắng lợi của cách mạng. Đồng thời, những hoạt động đó cũng kịp thời chuẩn bị mọi mặt cho đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc, đồng chí Lê Đức Thọ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tin tưởng, giao phó đảm nhận nhiều cương vị quan trọng. Đồng chí thường được “điều đến những nơi, những lúc và ở những khâu công tác có tính quyết định của cách mạng”(2). Tuy nhiên, với ý chí, sự kiên định lý tưởng và nỗ lực không ngừng, đồng chí đều cống hiến hết sức mình, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Nam Bộ là chiến trường khốc liệt và cũng là nơi, đồng chí Lê Đức Thọ gắn bó rất nhiều trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Năm 1948, đồng chí Lê Đức Thọ được cử làm Trưởng đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào kiểm tra công tác kháng chiến kiến quốc ở Nam Bộ. Sau hơn một năm đi bộ, trèo đèo, băng rừng, lội suối vượt Trường Sơn, vượt qua những khó khăn, thử thách, sự truy đuổi của kẻ thù, qua mấy chục nghìn km từ căn cứ địa Việt Bắc, đồng chí và phái đoàn Trung ương đã vào tới căn cứ của Trung ương cục miền Nam tại Đồng Tháp Mười. Năm 1949, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ - một trong những lãnh đạo chủ chốt của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân miền Nam. Năm 1951, đồng chí Lê Đức Thọ được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, sau đó làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí đã nỗ lực cùng đồng bào Nam Bộ vượt qua khó khăn, thử thách, quyết tâm từng bước đưa cuộc kháng chiến đạt được những thành công, làm rạng rỡ thêm tên gọi “Thành đồng Tổ quốc”, cho tới tận lúc nhận được chỉ đạo của Trung ương tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơnevơ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Lê Đức Thọ được bổ sung vào Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, kiêm Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, rồi được cử vào Quân ủy Trung ương. Năm 1968, đồng chí được giao trực tiếp vào chiến khu Bắc Tây Ninh với vai trò Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam, tham gia chỉ đạo thúc đẩy các hoạt động cách mạng ở miền Nam. Khi xuất hiện cục diện mới (5/1968), ta với Mỹ vừa “đánh”, vừa “đàm”, đồng chí Lê Đức Thọ được cử làm phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, làm cố vấn đặc biệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Đây là một nhiệm vụ mới, một thử thách rất lớn, một sứ mạng rất khó khăn, bởi đây sẽ là kết quả tổng hợp từ chiến trường và bản lĩnh chính trị, tài năng sáng tạo của người đại diện trên chính trường. Sau gần 5 năm, vừa đấu trí, đấu lực, Hoa Kỳ phải ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi có ý nghĩa này là kết quả sự cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta, mà trực tiếp là đoàn ngoại giao Việt Nam, đặc biệt là cố vấn Lê Đức Thọ. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đồng chí được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ Trưởng Ban Chỉ đạo đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam. Năm 1975, đồng chí tiếp tục được cử vào miền Nam phổ biến Nghị quyết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đồng thời, cùng một số đồng chí thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp tham gia chỉ huy trận quyết chiến cuối cùng phối hợp với tổng nổi dậy vào sào huyệt địch tại trung tâm Sài Gòn làm lên chiến thắng vĩ đại. Đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, đồng chí Lê Đức Thọ tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao phó nhiều trọng trách mới như: Phó Trưởng Ban đại diện Đảng và Chính phủ ở miền Nam; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (12/1976). Khi xuất hiện vấn đề biên giới Tây Nam, đồng chí Lê Đức Thọ được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác biên giới Tây Nam (giữa năm 1977-1/1979); Trưởng đoàn chuyên gia của Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Campuchia và thay mặt Bộ Chính trị làm việc với Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạngCampuchia (1979 - 1982); Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Đảng (1983); Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại hội lần thứ VIcủa Đảng (1986). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đồng chí được Đại hội cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cuộc đời 64 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Thọ đã trải qua rất nhiều những nhiệm vụ khó khăn, thử thách do Đảng và nhân dân giao phó. Trên bất cứ cương vị, nhiệm vụ chính trị nào, đồng chí đều cố gắng hết mình và hoàn thành tốt nhằm thực hiện mục tiêu chung của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đó là đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng đất nước ngày càng phát triển nhằm đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc cho mọi người dân. Đồng chí Lê Đức Thọ tên khai sinh là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911, trong một gia đình nhà nho, tại làng Địch Lễ, tổng Đông Phù, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Vân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).Khi mới 15 tuổi (năm 1926), Lê Đức Thọ đã tham gia phong trào bãi khóa và dự lễ truy điệu trí sỹ yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1929, Lê Đức Thọ được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, được phân công phụ trách công tác thanh niên, học sinh và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), khi Đảng vừa ra đời. Đồng chí là một trong những đảng viên cộng sản lớp đầu tiên của Đảng.

