Đồng chí Phạm Hùng - Người lãnh đạo kiên trung, tài năng của cách mạng Việt Nam (1)
Đồng chí Phạm Hùng sinh ngày 11/6/1912 tại làng Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), trong một gia đình trung nông. Với lòng yêu nước sâu sắc và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Phạm Hùng tham gia yêu nước từ rất sớm, nhanh chóng giác ngộ cách mạng, dấn thân vào con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản do Nguyễn Ái Quốc truyền về Việt Nam.
Đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng bộ miền Nam đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 13/5/1975. (Ảnh: TTXVN)1. KIÊN TRUNG, BẤT KHUẤT TRONG LAO TÙ ĐẾ QUỐCĐồng chí Phạm Hùng thuộc lớp chiến sĩ cách mạng tiền bối của Đảng, của cách mạng Việt Nam. Hoạt động sôi nổi trong phong trào thanh niên, học sinh từ sớm, đến năm 18 tuổi, khi đang học năm thứ tư ở Trường Trung học Mỹ Tho, đồng chí Phạm Hùng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư chi bộ trường học. 19 tuổi, đồng chí được Đảng tin cậy giao trọng trách làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho. Tháng 6/1931, đồng chí bị địch bắt giam ba năm (1931-1933) ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Trong lao tù, dù bị tra tấn bằng cực hình, sau đó bị biệt giam vào xà lim, nhưng đồng chí tiếp tục lãnh đạo anh em tù nhân đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, xây dựng đường dây liên lạc với bên ngoài để tiếp tục chỉ đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Ngày 20/9/1932, tại Mỹ Tho, thực dân Pháp đã mở phiên tòa đại hình xét xử “những người chống lại an ninh công cộng”, đồng chí Phạm Hùng bị kết án tử hình và đưa về giam ở xà lim án chém Khám Lớn Sài Gòn.Án tử hình không thể làm nhụt ý chí đấu tranh của người Bí thư Tỉnh ủy trẻ tuổi, lúc đó mới 20 tuổi. Tinh thần nghĩa hiệp, thái độ ung dung trước cái chết của đồng chí đã cảm hóa một số tù thường phạm bị thực dân Pháp kết án xử tử, thức tỉnh lương tri và truyền niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản cho các bạn tử tù.Do phong trào đấu tranh của nhân dân ta và các lực lượng tiến bộ Pháp đòi ân xá tù chính trị, đồng chí được giảm từ án tử hình xuống án chung thân khổ sai và bị đày ra nhà tù Côn Đảo từ tháng 1/1934. Gần 12 năm trong địa ngục trần gian Côn Đảo, trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện sự tàn bạo, phi nhân tính của chủ nghĩa thực dân đã tỏa sáng nghị lực phi thường của người chiến sĩ cộng sản “dạ sắt, gan đồng”. Phải tồn tại trong “cảnh xô bồ mà mạng sống con người có khi đo bằng một chỗ ngả lưng hay một chén cơm gạo mục”(1), Phạm Hùng tỏ rõ khí phách của “con người thép” kiên cường trước kẻ thù, nhiều lần dũng cảm xả thân chịu đòn thay cho đồng chí của mình và luôn lạc quan, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào đấu tranh ở nhà tù Côn Ðảo, sau đó được cử làm Bí thư Ðảo ủy, đồng chí cùng Chi bộ tù nhân cộng sản lãnh đạo cuộc cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù để giành sự sống cho tù nhân, đòi giảm nhẹ khổ sai, cải thiện chế độ nhà tù. Biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, đồng chí tổ chức học tập lý luận về chủ nghĩa cộng sản, các buổi sinh hoạt văn nghệ phong phú, tuyên truyền giác ngộ tù nhân, binh lính, cai tù, giám thị, các đảng viên của Quốc dân đảng. Cách mạng tháng Tám nổ ra, đồng chí đã lãnh đạo anh em tù nhân chớp thời cơ giải phóng nhà tù Côn Đảo.2. NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG, CÓ UY TÍN LỚN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚCNgày 23/9/1945, Phạm Hùng trở về đất liền đúng ngày thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai ở Nam Bộ. Chỉ kịp gặp người mẹ trong giây lát, đồng chí lập tức lên Sài Gòn nhận nhiệm vụ tham gia Xứ ủy lâm thời Nam Bộ. Đến đầu năm 1946, khi đồng chí Lê Duẩn được điều ra Hà Nội, đồng chí được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ kiêm Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc, trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.Trên cương vị Bí thư Xứ ủy, đồng chí Phạm Hùng đã vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và tự lực cánh sinh của Trung ương Đảng, xây dựng thực lực của cách mạng và giải quyết hàng loạt vấn đề ở Nam Bộ do lịch sử để lại như các tổ chức vũ trang xuất thân từ các thành phần khác nhau, xóa bỏ thành kiến giữa “Việt Minh cũ - Việt Minh mới”. Đồng chí đã chỉ đạo xây dựng, củng cố khối đoàn kết thống nhất các lực lượng kháng chiến; kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Xứ ủy. Bởi vậy, dù trong hoàn cảnh khó khăn chồng chất, cuộc kháng chiến của quân và dân Nam bộ lập được nhiều chiến thắng vẻ vang, được Bác Hồ tặng danh hiệu “Nam bộ Thành Đồng”.Trên cương vị Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc, đồng chí đã lãnh đạo xây dựng lực lượng công an tuyệt đối trung thành, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân và đấu tranh loại trừ các phần tử mật thám, phản động trà trộn hoạt động phá hoại, gây nhiều tổn thất cho cách mạng. Từ Quốc gia Tự vệ cuộc, đồng chí Phạm Hùng tổ chức thành lập bộ phận công an cách mạng, sau này là Nha Công an Nam Bộ. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ V (1/1950), dự thảo Đề án Công an nhân dân Việt Nam do đồng chí Phạm Hùng trình bày, được thông qua đã trở thành cơ sở khoa học lý luận cho việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.
Đồng chí Phạm Hùng (thứ ba từ trái sang), Phó giám đốc Sở Công an Nam bộ chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 5 (tháng 1/1950).


