DÒNG SÔNG KHÔNG NGỪNG CHẢY
Căn nhà nhỏ của mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Trễ nằm ở ấp Cà Tong, xã Thanh An, huyện Dầu Tiếng. Mẹ và các thành viên trong gia đình mừng rỡ đón tiếp chúng tôi như người trong nhà. Đôi mắt mẹ nhăn nheo hằn in những dấu vết của thời gian nhưng toát lên vẻ đẹp phúc hậu, những kỷ niệm vui buồn về một thời đạn bom cứ thế ùa về qua câu chuyện kể của mẹ.
VIẾT TIẾP DÒNG SÔNG CÁCH MẠNG
DÒNG SÔNG KHÔNG NGỪNG CHẢY
*********
Dầu Tiếng – mảnh đất đã đi vào lịch sử không chỉ bằng những trận đánh, mà bằng cả những con người đã sống, đã hy sinh và lặng lẽ viết nên những trang sử bằng chính cuộc đời mình. Trở lại nơi này, giữa không gian yên bình của hôm nay, người ta vẫn cảm nhận đâu đó âm vang của một thời bom đạn. Và xúc động hơn cả, là khi được gặp những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – những người đã gánh trên vai cả nỗi đau và niềm tự hào của dân tộc.
Căn nhà nhỏ của mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Trễ nằm ở ấp Cà Tong, xã Thanh An, huyện Dầu Tiếng. Mẹ và các thành viên trong gia đình mừng rỡ đón tiếp chúng tôi như người trong nhà. Đôi mắt mẹ nhăn nheo hằn in những dấu vết của thời gian nhưng toát lên vẻ đẹp phúc hậu, những kỷ niệm vui buồn về một thời đạn bom cứ thế ùa về qua câu chuyện kể của mẹ.
Hai người thân yêu nhất trong cuộc đời mẹ Trễ – người chồng và đứa con trai – đã lần lượt gửi lại tuổi xuân và sự sống của mình cho Tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến dài đầy máu lửa. Chồng mẹ, ông Nguyễn Văn Định, là người con miền Bắc, mang theo lý tưởng và lòng yêu nước vượt dặm dài vào Nam chiến đấu. Những năm tháng ấy, cuộc sống của mẹ vô cùng cơ cực, ngày ngày lặn lội với công việc cạo mủ cao su để mưu sinh. Chính nơi đất quê nghèo ấy, giữa những lần gặp gỡ tình cờ, giản dị mà chân thành, hai con người xa lạ đã tìm thấy nhau, nên duyên vợ chồng trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt. Hạnh phúc đến với mẹ ngắn ngủi như một giấc mơ. Khi tình nghĩa vợ chồng còn chưa kịp đong đầy, ông lại lên đường làm nhiệm vụ. Mẹ tiễn chồng đi, trong vòng tay còn bế đứa con trai chưa tròn một tuổi. Khi ấy, mẹ đâu thể ngờ rằng cuộc chia tay bình dị hôm ấy lại là lần từ biệt vĩnh viễn. Rồi một ngày, tin dữ lặng lẽ ập đến. Mẹ nghe tin chồng đã hy sinh trong một trận càn quét ác liệt của địch vào năm 1952. Nhưng phải nhiều năm sau, tờ giấy báo tử mới đến tay mẹ — tờ giấy mỏng manh mà nặng trĩu nỗi đau. Từ giây phút ấy, mẹ hiểu rằng mình không chỉ mất đi người bạn đời, mà còn mất đi một phần cuộc sống. Nhưng cũng từ đó, trong sâu thẳm trái tim, mẹ giữ lại một niềm tin bền bỉ: sự hy sinh ấy không vô nghĩa, mà đã góp phần làm nên ngày mai của đất nước.
Nhìn đứa con thơ chưa một lần được gọi tiếng ba, lòng mẹ đau như cắt. Nhưng mẹ hiểu rằng lúc ấy phải sống mạnh mẽ hơn gấp bội để vừa làm mẹ vừa làm cha nuôi dạy con trai bé bỏng. Người con ấy cũng chính là liệt sĩ Nguyễn Văn Đạt, cán bộ Ban giao bưu phân khu. Năm 12 tuổi, anh đã sớm theo tiếng gọi cách mạng. Mẹ kể rằng: “Nó tự hào về ba nó lắm, dù nó chỉ biết ba nó qua những câu chuyện kể, nhưng với nó ba nó là một anh hùng”. Và đó cũng là lý do Nguyễn Văn Đạt sớm gia nhập vào hàng ngũ cách mạng. Hồi ấy, anh là cậu bé giao liên nhanh nhẹn, với chiếc xe đạp cà tàng nhưng ngóc ngách nào anh cũng đi, mọi nhiệm vụ thư tín đều được anh hoàn thành xuất sắc. Năm 1969, trong một lần đi liên lạc ở An Nhơn Tây, Nguyễn Văn Đạt bị trúng bom và hy sinh, khi ấy anh vừa tròn 19 tuổi. Hay tin, mẹ như chết lặng, mẹ cứ đi tìm, nghe ngóng khắp bìa rừng, ngã xóm gần khu vực anh hay đi liên lạc với mong muốn tìm được hài cốt của con đưa về thờ tự. Nhưng chiến tranh loạn lạc, mẹ tìm trong vô vọng. Nỗi đau chồng chất nỗi đau, có những lúc mẹ như gục ngã nhưng rồi mẹ hiểu rằng chồng mẹ, con mẹ đã đổ máu để làm thắm lại màu cờ Tổ quốc. Trong sâu thẳm trái tim của mẹ, họ vẫn còn đó, vẫn là điểm tựa để mẹ sống tốt hơn, có ích hơn.
Dù không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng mẹ Phan Thị Trễ đã làm tốt vai trò hậu phương vững chắc, gánh gạo nuôi bộ đội. Có gì góp nấy, từ củ khoai, củ sắn đến hạt gạo, thuốc men mẹ đều dành cho các anh. Những hôm các anh ghé nhà mẹ nấu cho các anh ăn, vá áo cho các anh mặc, thương các anh không khác gì máu mủ. Những năm địch đóng quân tại quê mẹ, mẹ còn làm tai mắt cho bộ đội mình. Mẹ kể: “Không có giặc mẹ để cái tĩn trắng (một cái chum nhỏ) lên trên cao để bộ đội nhìn thấy, có giặc mẹ đem cái tĩn xuống”. Địch nhiều lần gọi mẹ lên hỏi cung nhưng mẹ một mực không khai dù có bị đánh đập, chúng không còn cách nào khác đành thả mẹ về. Tuy sức khỏe đã yếu, nhưng cứ cuối tháng và các dịp lễ, tết mẹ vẫn không quên nhờ các con đưa mẹ đi viếng nghĩa trang, lên thăm mộ của chồng, con đã hy sinh. Mẹ vẫn luôn dặn dò con cháu phải biết giữ vững và nối tiếp truyền thống cách mạng.
Rời căn nhà nhỏ của mẹ Phan Thị Trễ, chúng tôi ngoái nhìn lại rất lâu. Không phải bởi mái nhà ấy có gì đặc biệt, mà bởi nơi đó đã chứa đựng cả một phần lịch sử — một lịch sử không được viết bằng mực, mà bằng nước mắt, bằng máu và bằng sự hy sinh thầm lặng của một người mẹ.
Dòng sông thời gian vẫn chảy, cuốn theo những năm tháng chiến tranh lùi xa vào quá khứ. Nhưng có những điều không bao giờ trôi mất — đó là ký ức, là đạo lý, là lòng biết ơn đối với những con người đã âm thầm giữ gìn và viết tiếp dòng chảy cách mạng.
Mẹ Trễ và biết bao người mẹ Việt Nam Anh hùng khác chính là những “dòng sông” như thế. Họ không ồn ào, không phô trương, nhưng lại bền bỉ chảy qua năm tháng, mang theo phù sa của lòng yêu nước, của đức hy sinh và của niềm tin son sắt vào ngày mai. Họ đã mất đi những điều thiêng liêng nhất của đời mình — chồng, con, tuổi xuân và cả những ước mơ bình dị. Nhưng đổi lại, họ đã góp phần làm nên một đất nước hòa bình, nơi những thế hệ hôm nay được sống, được học tập và được mơ ước.



