Dòng sông váng phèn
Miền Tây mùa nước cạn năm ấy, con sông trước làng tôi đổi màu vàng đục. Mặt nước loang loáng những vệt trắng như dầu, người lớn gọi đó là váng phèn. Nước chua đến mức rửa mặt cũng rát da, cá tôm nổi lờ đờ bên mé bờ rồi chết trắng. Những hàng tràm ven sông lá úa vàng, rễ ngâm trong dòng nước đắng.
Nhưng với dân làng, con sông ấy không chỉ là nguồn nước, mà còn là con đường sống, là nơi che chở bao phận người trong chiến tranh. Tôi khi đó mười ba tuổi, sống cùng má trong căn chòi lợp lá dừa nước ở mé sông. Cha tôi đi theo du kích đã ba năm chưa về. Mỗi lần nhìn xuồng ai cập bến, tôi lại ngóng xem có bóng dáng quen thuộc không. Má thường bảo: – Sông có lúc trong lúc đục, đời người cũng vậy. Ráng chờ ngày yên. Tôi không hiểu hết, chỉ biết mùa ấy cuộc sống khó khăn lắm. Ruộng lúa cháy phèn, nước không tưới được. Người dân phải chèo xuồng đi xa xin từng lu nước ngọt. Đêm xuống, tiếng đại bác từ đồn giặc vọng về từng chập làm cả xóm giật mình. Một chiều muộn, khi tôi đang xúc nước đổ bỏ lớp váng trắng trên lu, có tiếng gõ khẽ vào cột nhà. Cốc… cốc… cốc… Má bước ra, khựng lại rồi kéo người khách vào trong. Đó là một chú bộ đội áo bà ba đen, mặt xanh xao, chân quấn tạm bằng miếng vải đẫm máu. Má nhìn tôi: – Con canh ngoài cửa. Tôi hiểu ngay. Chú là cán bộ bị thương. Suốt đêm ấy, má nấu nước lá rửa vết thương cho chú. Không có thuốc men, má giã lá cây với muối đắp vào chân. Tôi nghe chú rên khe khẽ nhưng vẫn cắn răng chịu đựng. Ngoài sông, nước phèn lăn tăn dưới ánh trăng mờ. Sáng hôm sau, tin lính sắp càn về xóm lan nhanh. Nhà nào nhà nấy giấu thóc, giấu gạo, chuẩn bị hầm bí mật. Má nhìn chú bộ đội rồi nhìn ra con sông đang vàng đục. – Chỉ còn cách đưa chú qua bên kia kinh tràm. Chú lắc đầu: – Tôi đi không nổi, lộ hết cả nhà. Má nghiêm giọng: – Còn sống là còn đánh giặc. Bà lấy chiếc xuồng ba lá cũ, lót rơm phía dưới, phủ lên trên mấy bó cỏ khô rồi bảo tôi chèo. – Con chèo sát mé lục bình. Có hỏi thì nói chở cỏ cho trâu. Tim tôi đập thình thịch. Con sông hôm ấy lặng ngắt. Lớp váng phèn bị mái chèo rẽ ra thành những vòng tròn loang lổ. Nước chua bốc mùi ngai ngái. Tôi vừa chèo vừa sợ thấy bóng lính ngoài đồn. Giữa sông, một chiếc xuồng máy từ xa chạy tới. Hai tên lính ngồi trên, súng gác ngang mũi. – Ê nhỏ! Chở gì đó? Tôi nuốt nước bọt: – Dạ… cỏ cho cậu con trâu. Tên lính cười khẩy: – Mùa này cỏ đâu mà cắt nhiều vậy? Tôi run đến mức tay suýt rơi chèo. Đúng lúc ấy, một đàn vịt từ mé kênh ùa ra quẫy nước tán loạn. Chiếc xuồng máy đổi hướng đuổi bọn trẻ đang lùa vịt gần đó. Tôi thở phào, cố chèo thật nhanh. Qua tới bên kia kinh tràm, mấy chú du kích đón sẵn. Họ khiêng người bị thương xuống xuồng. Trước khi đi, chú bộ đội nắm tay tôi: – Cảm ơn con. Tôi lắc đầu, chẳng nói được gì. Chiều hôm ấy, giặc càn vào làng thật. Chúng lục tung từng nhà, đạp đổ chum nước, đốt mấy chòi lá ven sông. Nhưng chúng không tìm thấy ai. Con sông vẫn trôi lặng lẽ, mang trên mặt lớp váng phèn đục ngầu như chưa từng che giấu điều gì. Nhiều tháng sau, cha tôi trở về trong một đêm mưa. Ông gầy sọp nhưng ánh mắt sáng rực. Tôi ôm chầm lấy cha mà khóc. Cha xoa đầu tôi: – Nghe nói con biết chèo xuồng cứu người rồi hả? Má cười hiền: – Nhờ con sông dạy nó đó. Nhiều năm trôi qua, chiến tranh lùi xa. Người ta đào kênh rửa phèn, dẫn nước ngọt về. Con sông trước làng dần trong lại, cá tôm trở về, bờ bãi xanh lên từng mùa lúa mới. Mỗi lần đứng bên sông, tôi vẫn nhớ lớp váng trắng năm nào. Nó từng là dấu hiệu của gian khó, của đói nghèo, của hiểm nguy. Nhưng cũng chính trên dòng nước đắng ấy, biết bao tấm lòng ngọt ngào đã chở che nhau qua chiến tranh. Dòng sông từng váng phèn, nay trong xanh dưới nắng. Còn ký ức về những ngày ấy sẽ mãi đọng lại như phù sa lắng sâu trong lòng người.



