ĐƯỜNG HẦM ĐỊNH MỆNH
ĐƯỜNG HẦM ĐỊNH MỆNH
Lúc đó là tháng 4 năm 1954, bác Tường thuộc tổ công binh có nhiệm vụ đào một đường hầm xuyên qua lòng đồi để đặt khối bộc phá nghìn cân. Bác kể, dưới lòng đất sâu mươi thước, không gian đặc quánh mùi đất sét nồng hăng và mùi mồ hôi người. Không khí thiếu oxy đến mức ngọn đèn dầu lạc leo lét cứ chực tắt mỗi khi có ai đó thở mạnh. "Trong hầm, chúng bác phải nằm sấp mà đào. Không được dùng cuốc lớn vì sợ tiếng động truyền lên trên, giặc sẽ biết. Mỗi người chỉ có một chiếc xẻng nhỏ và đôi bàn tay trần," bác kể, đôi bàn tay run run mô phỏng động tác bới đất.
Đất đào ra được cho vào túi vải, chuyền tay nhau đưa ra ngoài thật khẽ khàng như những bóng ma. Đêm càng về khuya, không gian càng tĩnh mịch, tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực nghe rõ mồn một. Bác nhớ có lần, lưỡi xẻng chạm phải một tảng đá hộc. Cả tổ nín thở. Chỉ cần một tiếng "keng" vang lên, lính Pháp phía trên sẽ ném lựu đạn xuống ngay. Các bác phải dùng đục, khẽ khàng gõ từng nhịp một, canh đúng lúc pháo ta bắn từ xa tới để tiếng pháo át đi tiếng đục đá.
Càng tiến sát cứ điểm giặc, hiểm nguy càng cận kề. Có đoạn hầm chỉ cách hầm ngầm của Pháp vài mét. Bác kể: "Bác áp tai vào vách đất lạnh lẽo, nghe rõ cả tiếng nhạc đĩa rè rè và tiếng lính Pháp xì xồ uống rượu phía bên kia. Lúc đó, lằn ranh giữa cái chết và sự sống mỏng manh như một tờ giấy". Suốt nhiều tuần ròng rã, đôi bàn tay bác rướm máu, móng tay mòn vẹt, nhưng ý chí thì cứng như sắt đá. Chính con đường hầm của những "con chuột chũi" ấy đã đưa khối bộc phá vào đúng vị trí, tạo nên cú nổ định mệnh làm nổ tung đồi A1, mở toang cánh cửa chiến thắng cho toàn chiến dịch.
Bác Tường ngừng lại, nhấp một ngụm trà như để xua đi cái cảm giác khô khốc nơi cổ họng khi nhắc về những ngày "làm bạn với đất". Bác kể tiếp, càng tiến sâu vào lòng đồi A1, bóng tối không còn là nỗi sợ lớn nhất, mà chính là sự im lặng. Một thứ im lặng chết chóc bao trùm lấy đường hầm nhỏ hẹp chỉ vừa một người chui. Bác mô tả, đường hầm dài hơn 80 mét ấy không khác gì một cái cuống phổi của cả chiến dịch, nơi mà mỗi hơi thở đều phải dè chừng.
"Có những đêm, bác nằm áp bụng xuống nền đất ẩm, đôi bàn tay đã sưng tấy vì chạm phải đá sắc, tai thì căng lên để phân biệt từng tiếng động phía trên đầu," bác Tường bồi hồi. Bác kể về một kỷ niệm nghẹt thở: Đó là khi tổ của bác đào đến đoạn chỉ còn cách hầm ngầm của địch chừng ba mét. Đột nhiên, từ phía trên, tiếng xẻng của lính Pháp vang lên lộc cộc. Hóa ra, địch cũng đang đào hầm phản kích để tìm kiếm đường hầm của ta.
Khoảnh khắc đó, cả tổ công binh bốn người lặng đi như những pho tượng đất. Một người đồng đội của bác vì quá ngột ngạt đã suýt bật ra tiếng ho, bác phải nhanh chóng đưa bàn tay đầy bùn đất của mình bịt chặt miệng anh lại. Trong bóng tối lờ mờ, họ nhìn thấy nhau qua ánh mắt – một ánh mắt rực lửa quyết tâm nhưng cũng đầy lo âu. Nếu giặc đào trúng hầm, tất cả sẽ bị chôn sống. Bác kể, lúc đó bác chỉ nghĩ đến khối bộc phá 1.000kg đang nằm chờ ngoài kia. Nếu hầm bị lộ, bao nhiêu công sức của hàng ngàn người dân công, bao nhiêu máu của anh em bộ binh đổ trên sườn đồi sẽ trở nên vô ích.
Mỗi tấc đất đào thêm là một lần bác đấu trí với tử thần. Bác Tường mô tả kỹ cách các bác chuyển đất: "Đất không được đổ bừa bãi. Chúng bác phải cho vào bao tải, bò lùi để kéo ra ngoài, rồi bí mật đổ xuống các hố bắn hoặc ngụy trang bằng cành cây khô để máy bay địch không phát hiện ra." Đôi bàn tay bác lúc đó không còn cảm giác đau đớn, những móng tay mòn vẹt, rớm máu vì cào vào đá nhưng bác bảo "lòng mình lúc đó cứng hơn đá núi".
Khi khối bộc phá khổng lồ được chia nhỏ thành từng gói 20kg, bí mật chuyển vào cuối đường hầm, bác Tường là một trong những người cuối cùng kiểm tra kíp nổ. Bác nhớ lại giây phút rút lui ra khỏi hầm, nhìn lại con đường hầm tối tăm mà mình đã gắn bó suốt 82 ngày đêm. Đó không chỉ là một công trình quân sự, đó là mồ hôi, là da thịt và là linh hồn của những "con chuột chũi" kiên cường.
Đúng 20 giờ 30 phút ngày 6 tháng 5 năm 1954, một tiếng nổ trầm hùng từ lòng đất rung chuyển cả vùng trời Điện Biên. "Bác đứng ở cửa hầm, cảm nhận mặt đất dưới chân mình nảy lên như một sinh vật đang thức tỉnh," bác Tường nói, giọng đầy tự hào. Khối bộc phá nghìn cân ấy đã thổi bay một phần cứ điểm đồi A1, tạo ra một hố bom khổng lồ – cái hố bom mà sau này trở thành chứng tích lịch sử vĩ đại. Tiếng nổ ấy cũng chính là hiệu lệnh cho đợt tổng công kích cuối cùng.
Kết thúc câu chuyện, bác Tường nhìn vào đôi bàn tay gầy guộc của mình, khẽ mỉm cười: "Đời người lính công binh thầm lặng lắm cháu ạ. Chúng bác không trực tiếp xông lên cướp cờ, nhưng chúng bác dọn đường cho chiến thắng. Mỗi tấc đất dưới đồi A1 đều thấm đẫm mồ hôi và cả những lời thề giữ nước của chúng bác năm xưa."
Ngồi nghe bác kể, chúng tôi bỗng thấy không gian xung quanh như cô đặc lại. Nhìn vết sẹo và đôi bàn tay mòn vẹt của bác, tôi hiểu rằng lịch sử không chỉ là những trang sách, mà là những nỗi đau, sự nhẫn nại và lòng dũng cảm phi thường của những con người bình dị như bác Tường. Đêm mở đường dưới lòng đất năm ấy mãi mãi là một khúc tráng ca thầm lặng, góp phần dệt nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc.



