Bài viết

Đường vào

TS: Năm 1969, chàng trai trẻ Lê Lân tạm biệt quê hương Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu, Nghệ An lên đường nhập ngũ. Qua những ngày huấn luyện và hành quân gian khổ, vất vả, anh đã có mặt tại chiến trường và được biên chế về Đoàn 559...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

TS: Năm 1969, chàng trai trẻ Lê Lân tạm biệt quê hương Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu, Nghệ An lên đường nhập ngũ. Qua những ngày huấn luyện và hành quân gian khổ, vất vả, anh đã có mặt tại chiến trường và được biên chế về Đoàn 559... Những năm tại ngũ, người chiến sĩ này đã ghi lại trong nhật ký nhiều câu chuyện chân thực, xúc động...

Đường ra mặt trận

Ngày 15-3-1970

Đoàn tàu quân sự giương cao cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng hối hả lao nhanh về phía Ga Vinh, đưa đoàn lính trẻ của quê hương Xô-viết anh hùng lên đường ra trận. Khi tàu đi qua mảnh đất Quỳnh Lưu, chúng tôi đã bắt gặp nhiều hình ảnh cảm động, những cô gái vội vã tìm khuôn mặt người thân, các bà mẹ giơ cao tay tiễn biệt những đứa con yêu ra trận, bầy trẻ thơ líu lo hát bài “Cháu yêu chú bộ đội”. Đáp lại là cả rừng cánh tay vươn ra ngoài cửa sổ toa tàu, tạm biệt quê hương.

Ban tác chiến Sư đoàn 470, Đoàn 559 tại Buôn Ma Thuột sau ngày 30-4-1975 (tác giả thứ hai, từ phải sang). Ảnh do tác giả cung cấp

Ngoằn ngoèo như một con trăn khổng lồ, đoàn tàu mất hút trong rừng thông Mỹ Lý, kéo còi rú vang một hồi dài báo hiệu vào ga. Trước mắt chúng tôi là Thành Vinh dần hiện rõ dưới ánh sáng vàng vọt của những ngọn đèn đường treo mắc trên các ngọn cây đang gượng dậy lên xanh. Những tòa nhà đổ sập chồng lên miệng hố bom nham nhở, dòng khẩu hiệu đầy quyết tâm và con số 103 máy bay Mỹ bị bắn rơi được phóng to trên những bức tường rạn nứt… là minh chứng cho tội ác của kẻ thù và tinh thần kiên cường bám trụ của quân dân thành phố.

Ngày 16-3-1970

“Chào quê hương thay đổi đang qua!”, câu thơ của ai đó được chàng lính trẻ đọc to lên khi đoàn xe vừa qua phà Bến Thủy, bỏ lại sau lưng dòng sông Lam, núi Quyết thơ mộng và ống khói Nhà máy điện Vinh đang ngày đêm nhả khói. Hà Tĩnh đây rồi “đất nghèo nhưng lại rất thơ”. Không kịp dừng chân viếng mộ 10 cô gái “Ngã ba Đồng Lộc” mà cỏ vừa mới lên xanh để hiểu thêm dưới những cung đường bom cày đạn xới này đã có biết bao nhà dân được dỡ ra lát đường, bao con đường đã không sợ nguy hiểm, làm cọc tiêu sống cho xe pháo đi qua ra chiến trường.

Ngày 17-3-1970

Rời Hà Tĩnh vào một ngày nắng đẹp, đến “Quảng Bình quê ta ơi!” khi chiều vừa buông xuống. Mảnh đất anh hùng nơi tuyến đầu của miền Bắc đánh Mỹ đang đi vào thơ, ca, nhạc, họa. Đại đội dừng chân nghỉ lại trong một làng nhỏ bên bờ sông Gianh. Tôi đã gặp những người dân đầu húi trọc, không phân biệt gái trai của miền đất bỏng rát gió Lào, những bà mẹ, người chị đã từng tiếp nhận, tiễn đưa lớp lớp quân mình trên đường ra trận. “Những mái nhà tranh dựng tạm bên miệng hầm trú ẩn/ Những hố bom vừa lấp đã xanh khoai…/ Sắn vẫn xanh đồi, ngô kín bãi/ Lúa vẫn chín vàng bên những dòng sông”. Tất cả đang đi vào thơ Tố Hữu bằng những thi vị đằm thắm, trữ tình.

Ngày 18-3-1970

Về Cự Nẫm-một địa danh đã từng có tên trong âm nhạc-Chúng tôi được lệnh vào trú quân trong một xóm nhỏ vừa mới hồi sinh. Làng có nhiều trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được gom về sống trong trại nuôi dưỡng (nguyên là trạm thu dung của lính đi B). Thấy bộ đội qua làng, các em chạy ra đòi mang hộ ba lô, súng đạn. Gặp bé gái chừng lên mười tuổi, tôi tò mò hỏi chuyện. Cháu lễ phép trả lời:

- Bọ mạ cháu bị bom Mỹ giết từ năm ngoái, cháu được các o dân quân đưa về đây nuôi. Năm nay cháu học lớp 3 rồi, các o bảo đó là công ơn Bác Hồ, có phải không chú?

Tôi nắm chặt tay em:

- Phải đó! Bác Hồ và mọi người sẽ lo cho cháu và các bạn được ăn no, mặc ấm, được học hành. Cháu phải gắng học giỏi để trả thù cho bọ mạ và đền đáp công ơn Bác Hồ nhé!

- Dạ! Bé vụt chạy về phía có tiếng gọi tên nó, tên cháu là Thanh Xuân.

Tôi đứng lặng nhìn theo bóng dáng nhỏ thó, quắt queo, so với tuổi của bé...

Ngày 27-3-1970

Rời Quảng Bình sau mười ngày nghỉ dưỡng, cũng là chặng cuối cùng tạm biệt mảnh đất miền Bắc XHCN, chúng tôi bắt đầu vượt Trường Sơn. Những ngày sống trong tình dân ở Mỹ Trạch thật lưu luyến. Bao lời dặn dò, những giọt nước mắt bịn rịn đang lăn tròn trên má của mọi người trong giờ phút chia tay đã nói lên điều đó.

Mẹ Đấu có chồng hy sinh trong chống Pháp, đứa con trai độc nhất của mẹ cũng đã ngã xuống ngay trên mảnh đất quê hương trong một trận đánh trả máy bay Mỹ. Đôi mắt mẹ đã mờ đục, giờ đây cũng không nén nổi xúc động. Mẹ đến bên tôi, vuốt lại ve áo quân phục, thì thào:

- Nhỏ đi cho mạnh khỏe nghen! Bữa mô hết giặc nhớ về qua thăm mẹ!

Tôi không dám nhìn vào mắt mẹ. Một nỗi nghẹn ngào đang dâng lên xâm chiếm lòng tôi. Hình ảnh người mẹ già ở quê như đang nhập vào mẹ Đấu. Tôi muốn nói nhiều mà không sao nói được. Tôi nhìn mẹ như một đứa trẻ biết ơn.

Những ngày vượt Trường Sơn

Ngày 30-3-1970

Đoàn xe chậm chạp tiến vào cánh rừng chắn ngang trước mặt khi trời vừa tắt nắng. Chúng tôi được phổ biến đây là chặng cuối của hành quân cơ giới. Trời tối đen như mực, cứ hình dung lúc xe rú ga là đang lên dốc, vượt đèo, lúc lắc lư là bấp bênh miệng vực hay bò quanh hố bom.

Tuổi 20 ở Trường Sơn (tác giả bên trái)

Được lệnh nghỉ 10 phút. Xe chưa kịp tắt máy đã có tiếng lao xao của tốp nữ TNXP, với bao câu hỏi và tiếng trả lời.

- Có phải con trai “cá gỗ nhà choa” đó không?

- Phải rồi! Em ở huyện mô ta?

- Nghi Lộc, em Vinh chính gốc làng Đỏ đây, đồng hương ơi!

- Có anh nào Quỳnh Lưu đất mẹ không hầy?

Dưới ánh trăng rừng đầu tháng, tôi trố mắt nhìn mãi cô gái vừa lên tiếng, cố lục tìm trong ký ức như đã gặp cô một lần ở đâu đó? Phải rồi, những năm máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc, tôi đã gặp bao cô gái mở đường tóc dài như lụa ấy, không chịu kém con trai, lăn lộn dưới mưa bom bão đạn ác liệt, bám trụ những cung đường chiến lược, bảo đảm cho xe ra chiến trường. Với những cái tên Na, Nụ, Hồng, Xiêm… nghe dễ thương như cây trái vườn nhà, mà dũng cảm, rắn rỏi ngay cả trong giọng nói.

Đoàn xe lại lên đường. Chia tay chúng tôi là những hòn đá ném mạnh vào thùng xe...

Ngày 1-4-1970

Mờ sáng xuống xe, giải lao ăn cơm vắt để bắt đầu cho những ngày đi bộ vượt Trường Sơn mây trắng. Nhìn nắm cơm mà tôi không khỏi chạnh lòng nhớ mẹ, nhớ tới mo cơm mà mẹ vắt cho để ăn trưa cùng bạn bè một thuở. Giờ này chắc mẹ đang sửa soạn ra đồng cày cấy.

Bước vào cửa rừng là chạm trán ngay với dốc cao chọc trời. Vai mang nặng, trời nắng như đổ lửa, mồ hôi vã ra như tắm. Đường đi dốc đứng, đầu người đi sau chạm phải ba lô người đi trước, tay vịn lan can, chân bám bạc, đoàn quân cứ vậy mà leo lên đến đỉnh dốc hết 2 tiếng đồng hồ, thở ra cả bằng tai. Thế mới biết những người lính vượt Trường Sơn không chỉ bằng “đôi vai ngàn cân, đôi chân vạn dặm” mà bằng cả trái tim rực lửa vì miền Nam ruột thịt.

Hết núi là đèo, lúc chênh vênh bên miệng vực nghe nước réo ầm ào, lúc bồng bềnh trên cầu treo ngọn cây, lúc lại ngâm chân lội suối dài đến cả tiếng, nhìn sang dãy núi bên kia đã thấy mây trắng quyện giăng thành. Đoàn hành quân qua các trọng điểm như cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Cúc Mạc, Pu-la-nhích; trọng điểm Văng Mu, Thác Bạc, Bản Long… vất vả nhất là hôm vượt đỉnh đèo Ba Thang (cổng nhà trời), đá tai mèo dựng ngược, phía dưới là vực thẳm, phải dò dẫm len lỏi từng bước chân, chỉ cần sơ sẩy là thành liệt sĩ như chơi.

Đi trong mùa mưa của rừng Lào quả là khắc nghiệt. Trời đang nắng, bỗng chốc mây đen ùn ùn kéo đến rồi mưa tuôn xối xả, mặt đường nhão nhoét, trơn nhẫy, sên vắt văng ra như trấu bám đầy người. Ngớt mưa là nước lũ tràn về, không khẩn trương vượt suối là bị tắc.

Ngày 10-4-1970

Vượt đêm qua Đường 9 vào lúc 2 giờ sáng, người sau hướng theo ánh dạ quang trên mũ người đi trước mà bám sát đội hình. Lệnh hành quân quán triệt “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, người đi sau cùng phải dùng cành cây xóa hết dấu chân qua đường. Những lần vượt sông Bạc, Sê Pôn, Sê Sụ… bằng thuyền độc mộc là những phút đợi chờ nóng ruột khi thuyền rẽ sóng tìm luồng, đưa quân qua sông an toàn tuyệt đối.

Trên bầu trời Trường Sơn không lúc nào ngớt tiếng gầm gừ, tìm kiếm của các loại máy bay trinh sát AC130, OV10 của địch. Chỉ cần khả nghi có mục tiêu là chúng vãi bom như trấu, quần nát cả khu rừng. Nhớ hôm vượt sông Bạc, đoàn quân vừa đi khỏi chừng 10 phút, đằng sau đã nghe tiếng “cắc bụp” và tiếp theo là những tràng bom bi, bom sát thương nổ rền. Phục tài giao liên, nắm chắc quy luật hoạt động của lũ giặc nhà trời.

Ngày 15-5-1970

Sau hai tháng hành quân gian khổ, vất vả. Hôm nay, đoàn hành quân H2889 đã có mặt tại điểm tập kết cuối cùng - điểm đến của chiến trường, vào gần đúng ngày kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh Bác Hồ. Chúng tôi khẩn trương bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới, với một khí thế lập công dâng Bác...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn