Gặp lại người cùng anh Trỗi đặt mìn cầu Công Lý
Lần tìm mãi cuối cùng tôi cũng có được số điện thoại của ông Nguyễn Hữu Lời, người đồng đội cũ của anh Trỗi. Một ngày cuối tuần tôi đã tìm đến được địa chỉ căn nhà của ông trên đường Đề Thám (phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, TP.HCM).
Tiếp tôi bằng nụ cười thân thiện, ông Lời cho biết: “Sự kiện này nhiều địa phương, cơ quan đã mời chú đến nói chuyện nhiều lần rồi, cháu ạ. Nhưng có một số chi tiết băn khoăn mãi giờ chú mới kể cho cháu nghe... À, mà cháu viết bài cho báo Bình Dương hả? Chú rất vui vì trước đây chú đã từng hoạt động ở khu vực Sông Bé, Tây Ninh, chắc chắn sẽ còn nhiều bà con nhận ra các chú...”. Nhấp hớp trà nóng, ánh mắt ông nhìn sâu thẳm vào khoảng không, bao hình ảnh xúc động ngày xưa ùa về...
4 anh em họ cùng chung một chiến hào
9 năm kháng chiến chống Pháp, thời kỳ 1953-1954, cậu bé Lời cùng anh Trỗi đã đứng chân trong hàng ngũ thiếu nhi tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Hòa (nay là Điện Thắng), Điện Bàn, Quảng Nam. Tuy nhỏ tuổi nhưng 2 người đã được hấp thụ “đầu óc” cộng sản. Mẹ của Lời và mẹ anh Trỗi đều tham gia “Hội Mẹ - Chị” để nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Nhưng một lần trên đường đi công chuyện, mẹ anh Trỗi bị trúng bom của máy bay địch và bà đã ra đi mãi mãi...
Sau năm 1954, một số cán bộ của quận, huyện về dạy học cho trẻ em nhưng chính quyền Diệm đã thủ tiêu hết số cán bộ đó. Lời và các bạn phải chuyển qua học trường của ngụy và anh đậu tiểu học năm 1957. Anh Trỗi cũng học hết tiểu học trước Lời rồi vào Sài Gòn. Ở lại quê nhà, Lời vẫn tiếp tục học ở trường trung học Nguyễn Dy Hiệu (Điện Bàn). Hết lớp đệ thất, Lời nghỉ học 1 năm vì nhà nghèo không có tiền đóng tiền học. Tháng 2-1959, Lời lên Đà Lạt làm thuê với mục đích kiếm tiền để có điều kiện đi học tiếp. Nhưng đến tháng 6-1959, Lời chuyển về Sài Gòn ở nhờ nhà người dì ruột trên đường Trương Minh Giảng (quận 3) và được dì cho đi học nghề uốn tóc (người dì này, anh Trỗi gọi bằng cô họ). Sau khi ra nghề, ban ngày Lời làm thợ, ban đêm tiếp tục đi học thêm tại trường Thủ Khoa Huân (quận 1). Học hết đệ tứ, Lời được 2 anh Tư Kiếm (Lê Đức Hiền) và Ba Sơn (Lê Hoàng Sơn) là 2 người con của dì đã “kết nạp” anh làm thành viên của Tổ biệt động (thuộc Đội biệt động 65) do Tư Kiếm làm tổ trưởng. Và, Lời được các anh đưa về Vườn Thơm (Đức Hòa, Đức Huệ, Long An) để học tập và tham gia hoạt động trong thành phố. Từ đây, Lời đã được sát cánh cùng anh Trỗi trong lòng địch...
Theo kế hoạch, Tổ biệt động sẽ lần lượt đánh các tên cố vấn Mỹ: Hơ-kinh, Ca-pốc-lốt, Tay-lo và Mác Na-ma-ra (McNamara). Tuy nhiên, cuối cùng lại thay đổi, diệt tên McNamara trước vì 3 tháng hắn mới qua Việt Nam một lần. Qua theo dõi, từ tháng 6-1963, hắn đã 4 lần tới Việt Nam và Tổ biệt động thấy có một quy luật là, từ sân bay Tân Sơn Nhất hắn đi vào trung tâm Sài Gòn đều trên con đường Công Lý (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi). Mỗi lần hắn tới đều có rất nhiều quan chức của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sân bay đón.
Từ thực tế đó, Tổ biệt động đã báo cáo lại tình hình và được cấp trên ra kế hoạch mưu sát tên McNamara. Từ Đức Hòa (Đức Huệ) hai trái mìn (8kg/trái) được chuyển theo đường sông đến Bến Nghé (quận 1) rồi chuyển về “tập kết” trên đường Trương Minh Giảng. Đúng ra mỗi trái mìn chỉ cần gắn 1 kíp nổ là được, nhưng để chắc ăn, anh Trỗi đã gắn hẳn 2 kíp vào 1 trái. Sức nóng của mỗi trái là 3.500 độ C, đủ để xe cháy ra nước; tầm sát thương là 625m2 (25m x 25m) đủ để tiêu diệt gọn đoàn xe hộ tống.Trận đánh xảy ra cách đây 45 năm rồi nhưng bây giờ nhắc lại, ông Lời vẫn cảm thấy như còn mới nguyên. Đứng trước khu vực Đài tưởng niệm anh Trỗi hôm nay, ông Lời chỉ tay về phía cổng chùa Vĩnh Nghiêm và kể: “Đúng quy luật đi lại thì tháng 6-1964, tên McNamara sẽ qua Việt Nam. Nhưng tháng 5-1964, do tình hình lộn xộn giữa Đông Bá Linh và Tây Bá Linh (Đông Đức và Tây Đức), mà hắn lại là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ nên tới đó để dòm ngó. Sẵn đường qua Đông Nam Á nên hắn ghé vào Việt Nam. Phái đoàn của hắn sẽ tới Sài Gòn vào thứ hai, ngày 11-5-1964. Vì thế nên kế hoạch thuê nhà điều khiển trái mìn định hướng mưu sát hắn của Tổ biệt động không kịp thực hiện và phải thay đổi phương án khác. Anh Tư Kiếm triệu tập gấp anh em trong tổ nên giao chú chạy đi tìm anh Ba Sơn (đang hành nghề chạy xích lô máy bên Gia Định) và anh Trỗi (đang là thợ điện). 4 anh em cùng thống nhất phương án đặt mìn vào hàng bụi cách chân dốc cầu Công Lý hướng vào trung tâm thành phố khoảng 50m. Hàng bụi này có nhiều xà bần chất thành đống, kéo dài từ cầu Công Lý qua cổng chùa Vĩnh Nghiêm bây giờ, ngày ấy chưa có chùa đâu, cháu ạ”.
Thực hiện kế hoạch tác chiến
Run run thắp 3 nén hương lên bát nhang trước tượng đài anh Trỗi, ông Lời bùi ngùi kể tiếp: “Sáng ngày 9-5-1964, Tổ biệt động tiến hành bước một: Mang trái mìn 8kg tới cầu Công Lý, đặt trong hàng bụi đó. Theo kế hoạch, tôi ít tuổi nhất (19 tuổi) đóng vai một học sinh tay cầm mấy tập vở lảng vảng ở cầu Trương Minh
Giảng (trên đường Lê Văn Sỹ hiện nay) để báo hiệu cho anh Ba Sơn thời cơ thuận lợi nhất sẽ kéo xe ba gác qua cầu. Anh Tư Kiếm mang theo 1 trái lựu đạn sẽ đi theo giúp sức bảo vệ anh Ba Sơn nếu bị bại lộ. Còn anh Trỗi chuẩn bị sẵn xe máy chờ ở ngã tư Yên Đỗ - Trương Minh Giảng (nay là ngã tư Lý Chính Thắng - Trần Quốc Thảo) để kịp thời chở 2 anh thoát thân nếu sự việc bị phát hiện”.
Từ xa xuất hiện một chiếc xe chở than sắp tiến lên cầu Trương Minh Giảng, một tên cảnh sát chặn lại kiểm tra. Lời vội ra ám hiệu, Ba Sơn nhanh chóng kéo chiếc xe ba gác chở trái mìn trong chiếc thùng sắt tây (có ngụy trang gạch, cát, xi măng chết) đến gần xe than và dừng lại nói: “Thầy làm ơn xét xe tui trước để tui qua chữa cầu tiêu cho người ta kẻo trễ rồi”. Thấy Ba Sơn mồ hôi nhễ nhại, quần áo dính đầy đất, cát, hồ, vữa nên tên cảnh sát nọ cho qua mà không mảy may nghi ngờ. Lời đi trước, Ba Sơn kéo xe ba gác phía sau vòng theo đường Yên Đỗ (nay là đường Lý Chính Thắng) đến hàng bụi (trước cổng chùa Vĩnh Nghiêm bây giờ) để đặt mìn cách dốc cầu Công Lý khoảng 50m.
Theo nhận định, đặt xong trái mìn, tổ định báo cáo về trên là không đánh nữa vì thấy bất lợi. Nhưng nhận được thư của cấp trên lệnh dù khó khăn thế nào cũng phải đánh cho bằng được nên tổ đã chấp hành thực hiện nhiệm vụ. Ông Lời nhớ lại, kể tiếp: “Anh Tư Kiếm thông báo họp khẩn: phân công anh Trỗi kết pin và thử lại dây điện cho thật chắc chắn. Anh Trỗi nói khoảng cách để điều khiển trái nổ chỉ 100m thôi, nhưng anh mua dự phòng đến 150m. Khi mua thiếu tiền nên anh Trỗi đã đặt cầm cả chiếc nhẫn cưới. Còn tôi và anh Ba Sơn sẽ làm nhiệm vụ phục kích tiêu diệt phái đoàn McNamara”.
Sau khi kết 6 cục pin nhỏ và thử đấu mối dây điện cảm thấy an tâm, Tổ biệt động bắt đầu xuất phát để hoàn tất bước hai là rải dây điện nối vào trái mìn vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 10-5-1964. Lời được phân công làm nhiệm vụ này. Khi đến dãy cầu tiêu công cộng của xóm Lách sát bờ rạch, cách đường Công Lý khoảng 150m, Lời đã thấy anh Trỗi chờ sẵn, chiếc xe máy để gần đó chuẩn bị chờ Lời khi công việc hoàn tất. “Lẽ ra người đứng đó là anh Ba Sơn, nhưng đến giờ xuất kích thì anh Ba bị kẹt xe không thể đến đúng giờ được nên anh Trỗi đã thay thế. Vả lại, trước đó, anh Trỗi đã tự nguyện đề nghị cấp trên cho anh được đi diệt tên McNamara vì trong đời không dễ gì có được dịp làm nhiệm vụ quan trọng như vậy...”, ông Lời cho biết.
Ngước nhìn lên tượng đài anh Trỗi, ông Lời bồi hồi nhớ lại: “Mặc dù ban đêm nhưng hôm đó con rạch cạn nước nên mỗi bước tôi trườn, bò và gỡ, kéo dây điện tiếng động nhẹ vẫn phát ra khiến một thằng là người nhà tên cảnh sát đang đi vệ sinh trong cầu tiêu nghe thấy. Nghi ngờ không phải là người bắt cá bình thường nên hắn chạy về đồn ở đường Yên Đỗ báo cho cảnh sát. Lúc đấu nối dây điện xong, tôi bò quay lại bờ rạch bên này thì đã thấy bọn chúng ập tới bắt anh Trỗi. Tôi cũng không thể kịp lội trở lại bên kia con rạch để trốn được nên cũng bị bắt luôn”. Lúc ấy, Tư Kiếm và Ba Sơn cũng kịp có mặt trong đám đông “hiếu kỳ” xem cảnh sát bắt Việt cộng nhưng vì người dân xúm lại nhiều quá, hai anh không thể hành động giải thoát cho đồng đội được.


