Anh hùng Lực lượng vũ trang

Gặp người Anh hùng của làng rối nước Đào Thục

Vào một ngày đầu đông, chúng tôi tới làng Đào Thục, xã Thùy Lâm, huyện Đông Anh (Hà Nội). Ngôi làng có bề dày lịch sử và văn hóa, nổi tiếng trong nước và quốc tế về nghệ thuật dân gian rối nước, đã có gần 300 năm nay. Khi hỏi về Đại tá Đinh Thế Văn, Anh hùng LLVTND thì ai cũng biết, bởi với người dân nơi đây, bác Văn không chỉ là Anh hùng trong chiến đấu mà còn là một nghệ nhân có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển phường rối nước của làng...

Hà Nội18/09/2026Đoàn xã Quý Hoà (Xã Quý Hòa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào một ngày đầu đông, chúng tôi tới làng Đào Thục, xã Thùy Lâm, huyện Đông Anh (Hà Nội). Ngôi làng có bề dày lịch sử và văn hóa, nổi tiếng trong nước và quốc tế về nghệ thuật dân gian rối nước, đã có gần 300 năm nay. Khi hỏi về Đại tá Đinh Thế Văn, Anh hùng LLVTND thì ai cũng biết, bởi với người dân nơi đây, bác Văn không chỉ là Anh hùng trong chiến đấu mà còn là một nghệ nhân có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển phường rối nước của làng.

Một thời khói lửa

Trong căn nhà rợp bóng cây xanh của vùng ngoại ô, người lính già có gương mặt đen sạm, dáng người hao gầy, gần tuổi “bát thập” nhưng vẫn giữ phong thái nhanh nhẹn, hoạt bát. Rót tách trà xanh nghi ngút mời khách, ông giới thiệu những bức ảnh đen trắng treo trên tường nhà, chụp từ thời gian ông tham gia chiến dịch “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” do các nhà báo gửi tặng ông và gia đình. Ký ức một thời xông pha trận mạc của ông, dù đã kể đi kể lại nhiều lần cho mọi người nghe, nhưng lần nào cũng hấp dẫn, sôi nổi, hào hứng.

Cũng giống như bao thanh niên Thủ đô đến tuổi trưởng thành, năm 1953, khi mới 16 tuổi, chàng trai Đinh Thế Văn hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc. Khi ấy, anh theo đoàn quân lên Tây Bắc để tham gia trận đánh cuối cùng với quân viễn chinh Pháp ngay tại lòng chảo Điện Biên. Kết thúc trận đánh lịch sử ấy, anh cũng vừa tròn 17 tuổi đời với 2 tuổi quân. Những tháng ngày “cơm vắt ngủ hầm” đã cho anh nếm trải mùi chiến trận. Hòa bình lập lại ở miền Bắc, mấy năm sau, anh xuất ngũ được chuyển ngành sang Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao. Miệt mài lao động và học tập, đến năm 1965, anh học xong chương trình phổ thông và thi đỗ vào Trường Đại học Bách khoa. Nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khép lại nhiều dự định của anh. Anh trở lại quân ngũ, được biên chế vào Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng Không- Không quân). Từ nỗ lực phấn đấu, rèn luyện mà khi vừa ngoài 30 tuổi, anh đã được giao giữ cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 (năm 1971).

Tiểu Đoàn trưởng Đinh Thế Văn (đội mũ) đang thuyết minh cách đánh B.52 với Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngoài cùng bên trái) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Trong chiến dịch 12 ngày đêm khói lửa bảo vệ Hà Nội, Tiểu đoàn 77, chấn gác ở  trận địa Chèm (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm), một trận địa xung yếu, có nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước. Mặc dù đơn vị đã có sự chuẩn bị, luyện tập kỹ lưỡng cho tình huống đánh B52, nhưng ở lần đối đầu thật sự, tất cả các chiến sĩ đều cảm thấy căng thẳng, bởi B52 được bảo vệ bằng nhiều loại máy bay khác, lại còn có các thiết bị gây nhiễu nhằm đánh lạc hướng ra-đa của ta. Ông Văn bảo, tính năng kỹ chiến thuật tên lửa SAM2 tấn công máy bay B52 lúc bấy giờ thường sử dụng hai cách đánh: đón nửa góc và bắn ba điểm. Trong đó, đón nửa góc là cách đánh chính, cách đánh này nếu kẻ địch gây nhiễu, bịt mắt tất cả các loại ra đa không nhìn thấy tín hiệu mục tiêu sẽ rất khó đánh. Chiều ngày 18-12-1972, chúng tôi nhận thông báo B52 đánh vào Hà Nội. Trận đầu tiên, Tiểu đoàn tôi chọn cách đánh 3 điểm, đánh trong giải nhiễu, tôi thấy không hiệu quả. Rút kinh nghiệm, trận thứ 2 tôi quyết định phát sóng đánh bằng phương pháp đón nửa góc. Tôi chỉ huy anh em phát sóng để bắt mục tiêu, tìm trong dải nhiễu phát hiện được chính xác tín hiệu B52. Cách đánh này cũng rất nguy hiểm so với cách đánh bắn ba điểm, máy bay địch có thể dùng tên lửa tấn công trận địa nếu ta không tắt sóng ra-đa kịp thời, đòi hỏi kíp chiến đấu phải rất dũng cảm, thông minh, tỉnh táo, phối hợp nhịp nhàng. Chiếc máy bay B52 đầu tiên bị Tiểu đoàn tôi bắn rơi là đêm 18-12 tại xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai. Đêm ngày 19-12, Tiểu đoàn cũng đánh 3 trận nhưng hiệu quả không cao. Oanh liệt nhất là trận đánh đêm 20 rạng ngày 21-12, đúng đêm mà Ních-xơn tham vọng “đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá” cho nên với ta cũng là đêm “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đêm đó, chúng tôi bắn trúng 3 chiếc máy bay B52, được trên công nhận có 2 chiếc rơi tại chỗ.

Với những đóng góp, cống hiến của mình cho việc phát triển môn nghệ thuật truyền thống của quê hương. Tháng 10-2010, Hội Di sản Văn hóa Thăng Long-Hà Nội đã tặng ông danh hiệu Người bảo vệ di sản văn hóa do đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Năm 2013, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân với thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 2014, ông được Trung ương Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực- nhân tài Việt Nam tặng Bằng Tôn vinh Nhân tài Đất Việt bảo tồn và phát huy bản sắc tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Nói về kỳ tích bắn rơi máy bay, Đại tá Đinh Thế Văn cho rằng: “Lúc bình thường chưa hẳn đã nghĩ ra cách đánh hay nhưng trong lúc gay cấn nhất, người ta thường có suy nghĩ táo bạo và sáng tạo, vận dụng những nhược điểm của máy bay B52 để chủ động tấn công: to, mặt phản xạ của tín hiệu B52 lớn, trọng lượng nặng (khoảng 30 tấn) không thể cơ động được như các loại máy bay khác, độ cao 10km rất vừa tầm với tên lửa SAM2. Điều đó lý giải tại sao trận địa Chèm là nơi bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất toàn quân lúc bấy giờ”.

Tổng kết chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, Tiểu đoàn 77 của Đinh Thế Văn được phong danh hiệu Đơn vị Anh hùng và người Tiểu đoàn trưởng được vinh danh là Chiến sĩ Thi đua toàn quân. Sau đó, ông làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 257, được cử đi học tại Học viện Phòng không và tiếp tục công tác trong Binh chủng đến năm 1989, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.

Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ

Trở về với quê hương, khi ấy đình làng bị chiến tranh tàn phá, chùa thì sắp đổ, rối nước hoạt động rất cầm chừng. Nghệ nhân, người còn người mất, thế hệ mới không mấy ai mặn mà. Ông được các cụ trong làng cử làm Trưởng ban Quản lý di tích. Từ đó, ông cùng với bà con xây dựng một khu di tích lịch sử của làng đúng với tâm niệm của dân làng. Trong thời gian này, ông bàn cách với các nghệ nhân của làng quyết tâm khôi phục nghề truyền thống múa rối nước của cha ông. Ông đi gặp nhiều cơ quan, đoàn thể vận động xin kinh phí, xây nhà thủy đình múa rối, gần 30 tích trò được khôi phục biểu diễn, đào tạo thêm lớp trẻ kế cận nghề.

Khi phường rối Đào Thục được nhiều nơi biết tới, ông và đồng nghiệp lại nghĩ thêm những hoạt cảnh mới lạ. Năm 2013, một tiết mục rất độc đáo “Hà Nội chiến thắng B52” do ông viết kịch bản từ năm 1984, được thuật lại một cách sinh động, hấp dẫn về các trận đánh 12 ngày, đêm lịch sử tại sân khấu thủy đình của làng. Tiết mục này, đã góp phần tích cực vào việc giáo dục lịch sử cho thế hệ sau về truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông.

“Tiếng lành đồn xa”, khách du lịch đã tìm đến Đào Thục ngày càng nhiều hơn. Sân khấu thủy đình thường xuyên có khách đến xem trình diễn. Ông tự hào: "Đào Thục là một trong những phường của cả nước sống lại được nghề truyền thống". Được biết, vào những tháng có khách du lịch đến xem, các nghệ nhân phường rối nước Đào Thục lại tập trung biểu diễn phục vụ khách. Kinh phí có được từ các buổi biểu diễn khiến các nghệ nhân gắn bó hơn trong gìn giữ nghệ thuật.

Mặc dù bận rộn với công việc vườn tược, ao cá của gia đình nhưng người lính già vẫn dành thời gian cho các hoạt động phong trào của địa phương như: phong trào xây dựng nông thôn mới, phong trào khuyến học (do ông làm Trưởng ban), Hội cựu chiến binh… Để có sức khỏe, ông thường xuyên tập thể dục vào mỗi sáng. Ông tâm niệm: “Còn sống, còn khỏe, còn làm việc, cống hiến cho quê hương, mỗi việc làm có ích với công động là một liều thuốc bổ đối với bản thân”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn