Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

GIỮ LỬA MỘT THỜI HOA (1)

Ông Nguyễn Đình Cơ - con người đã dành cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Ông sinh năm 1935, ở xóm Minh Quý, xã Mai Phụ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1953 đến 1954 tham gia làm chiến lược vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1955 làm việc tại cục địch vận bộ quốc phòng Năm 1962 đến 1972, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào tham gia chiến đấu ở Xiêng Khoảng cánh đồng chum, Nầm Nưa. 1973 đến 1975 tham gia chiến đấu ở Buôn Mê Thuột, Tây Ninh và tham gia giải phóng miền Na

Hà Tĩnh14/04/2026Trần Ngọc Bảo Châu (Liên đội trường Tiểu học Thạch Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

GIỮ LỬA MỘT THỜI HOA

Trong những ngày tháng yên bình của quê hương, khi những cánh đồng Mai Phụ trải dài trong nắng gió, chúng cháu có dịp gặp một con người mà cuộc đời ông như một trang sử sống – Đại tá Nguyễn Đình Cơ, con người đã dành cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Ông sinh năm 1935, ở xóm Minh Quý, xã Mai Phụ, tỉnh Hà Tĩnh. Ở ông, cháu không chỉ thấy dấu ấn của thời gian mà còn là ánh lửa chưa bao giờ tắt của một thời hoa lửa oanh liệt.

Ông nhập ngũ năm 1953, khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Đó là thời khắc mà tuổi trẻ của biết bao con người đã chọn rời xa mái nhà, gác lại những ước mơ riêng để bước vào cuộc chiến vì độc lập dân tộc. Ông kể, những ngày đầu tham gia kháng chiến, từ năm 1953 đến 1954, ông làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Những con đường rừng hiểm trở, những đêm hành quân trong mưa bom bão đạn – tất cả đã rèn giũa nên một người lính kiên cường, gan góc. Mỗi bước chân ông đi khi ấy không chỉ mang theo gạo, đạn mà còn mang theo niềm tin tất thắng của cả dân tộc.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, năm 1955, ông được điều về công tác tại Cục Địch vận – Bộ Quốc phòng. Tưởng như sẽ là những ngày bình lặng hơn, nhưng chiến tranh chưa bao giờ thực sự dừng lại với người lính. Từ năm 1962 đến 1972, ông tiếp tục lên đường sang nước bạn Lào, tham gia chiến đấu với tư cách quân tình nguyện Việt Nam. Những địa danh như Xiêng Khoảng, Cánh đồng Chum, Sậm Nưa,.… đã in dấu chân ông qua biết bao trận đánh ác liệt. Ông nói về những năm tháng ấy bằng giọng trầm lắng, nhưng trong ánh mắt lại ánh lên niềm tự hào sâu sắc – bởi đó là những năm tháng ông cùng đồng đội kề vai sát cánh, chiến đấu không chỉ vì Tổ quốc mình mà còn vì nghĩa tình quốc tế cao cả.

Những năm 1973 đến 1975, ông trở về chiến trường miền Nam, trực tiếp tham gia các trận đánh tại Buôn Ma Thuột, Tây Ninh và góp phần vào đại thắng mùa Xuân năm 1975 – giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khi nhắc đến ngày 30 tháng 4 lịch sử, giọng ông như nghẹn lại. Có lẽ, đó không chỉ là niềm vui chiến thắng mà còn là sự lắng đọng của bao mất mát, hy sinh của đồng đội đã nằm lại phía sau.

Hòa bình lập lại, nhưng người lính ấy vẫn chưa một ngày được nghỉ ngơi. Từ năm 1975 đến 1986, ông tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Đặc biệt, năm 1983, ông được giao trọng trách Sư đoàn phó Sư đoàn 316 – một vị trí thể hiện sự tin tưởng của quân đội đối với năng lực và bản lĩnh của ông sau nhiều năm chinh chiến.

Cuộc đời binh nghiệp của ông là chuỗi dài những năm tháng gắn bó với chiến trường, với gian khổ, hy sinh – nhưng chưa một lần ông lùi bước. Và rồi, sau gần bốn mươi năm cống hiến, năm 1990, ông chính thức nghỉ hưu, trở về với quê hương.

Với những cống hiến to lớn ấy, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Itxala hạng Nhất của Lào, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba, cùng nhiều huân, huy chương chiến công và chiến sĩ vẻ vang khác. Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất có lẽ vẫn là được sống, được chứng kiến đất nước hòa bình, độc lập như hôm nay.

Ngồi trước chúng cháu, ông không còn là người lính năm xưa nơi chiến trường khốc liệt, mà là một người ông hiền hậu của xóm làng. Thế nhưng, trong từng câu chuyện ông kể, tôi vẫn cảm nhận rõ ngọn lửa của một thời chưa bao giờ tắt. Đó là ngọn lửa của lòng yêu nước, của ý chí kiên cường, của niềm tin vào ngày mai.

Rời khỏi ngôi nhà nhỏ của ông, lòng cháu bỗng trào dâng một niềm xúc động khó tả. Cháu hiểu rằng, những gì mình đang có hôm nay – sự bình yên, tiếng cười, những ước mơ giản dị – đều được đánh đổi bằng cả một thời hoa lửa của những con người như ông Nguyễn Đình Cơ.

Cháu tự nhủ, thế hệ trẻ chúng cháu không được phép quên. Không được phép sống hời hợt. Phải biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm với hiện tại và nỗ lực xây dựng tương lai – để ngọn lửa ấy không bao giờ tắt.

Tác giả: Trần Ngọc Bảo Châu

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn