Khác

GS. Hoàng Minh Giám (1904-2014) – một trí thức yêu nước tiêu biểu, một nhà giáo tận tụy, tâm huyết – một chính khách tài năng vượt trội, mẫu mực và hào hoa (Phần 1)

GS. Hoàng Minh Giám (1904-2014) – một trí thức yêu nước tiêu biểu, một nhà giáo tận tụy, tâm huyết – một chính khách tài năng vượt trội, mẫu mực và hào hoa (Phần 1)

Thái Nguyên10/04/2026Lưu Kiều Anh (phường Gia Sàng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

I. Những nhận biết về cuộc đời và sự nghiệp của GS.Hoàng Minh Giám GS. Hoàng Minh Giám sinh ngày 04 tháng 11 năm 1904 tại làng Đông Ngạc(tên là Làng Vẽ), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Đây là một làng Việt Cổ, có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, bảo tồn được nhiều di sản vật thể và phi vật thể ẩn chứa giá trị nhiều mặt. Trong số các di sản ấy, di sản cao quý nhất, nổi danh khắp nơi là di sản hiếu học, trọng tri thức. Làng có hẳn “một bồ” các cụ Tú, cụ Cử, cụ Nghè, Giáo sư, Tiến sĩ cả Hán học lẫn “Tây học” nên mới có danh xưng là làng của trí tuệ, “làng Tiến sĩ”. Họ Hoàng của Giáo sư, là một trong những dòng họ có truyền thống hiếu học, thực học để thành tài, thành danh của Làng Vẽ trong nhiều thế kỷ, nặng lòng với nước, gần dân và thương dân.

.GS. Hoàng Minh Giám (1904-1995).Thân phụ của Giáo sư – cụ Hoàng Tăng Bí (1883- 1940), thi đỗ cử nhân năm 22 tuổi (1906) tại trường thi Hương Nam Định – năm đó có tới 6.121 sĩ tử chính thức dự thi, giám khảo đã chọn lấy 50 người đỗ, cụ là người thứ 02 trong số 50 người đó; năm 1910 cụ đỗ Phó bảng. Cử nhân tân khoa Hoàng Tăng Bí được Thống xứ Thành Nam – Nam Định, có tên là Groleau mời ra làm quan với chính quyền thuộc địa. Là một kẻ sĩ, có đầy ý thức tự trọng, cụ thẳng thừng từ chối, trở về Hà Nội (1907), cụ cùng với cụ cử Lương Văn Can, cụ huấn đạo Nguyễn Quyền mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc chấn hưng văn hóa nước nhà, đề cao tinh thần dân tộc, đào tạo người học thành những con người “hữu dụng” cho đất nước, cho dân tộc. Ngoài hoạt động nội khóa, hoạt động ngoại khóa của nhà trường đã thu hút sự chú ý của nhiều lớp người “Buổi diễn thuyết người đông như hội – Kỳ binh văn khách tới như mưa”. Người Pháp sợ trường này sẽ là “cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ”. Thế rồi nhân vụ “Hà Thành đầu độc” (12/1907), chúng bắt giam nhiều sáng lập viên, giảng viên của Đông Kinh Nghĩa Thục – cụ Hoàng Tăng Bí nằm trong số đó và bị tòa án đại hình Hà Nội xử tội, kết án 5 năm khổ sai, 15 năm biệt xứ.Do có nhiều mối quan hệ và quen biết, nhạc phụ của cụ cử Hoàng Tăng Bí, cử nhân Cao Xuân Dục (1842 – 1923) đương chức Thượng thư Bộ học (tương đương Bộ trưởng Bộ Giáo dục), kiêm tổng đài Quốc Tử Giám (vương Triều Nguyễn), bảo lãnh, cụ chỉ phải thực hiện án 15 năm biệt xứ và sống ở Huế với gia đình nhạc phụ. Vậy là tuổi thơ của Giáo sư Hoàng Minh Giám gắn liền với cố đô Huế.Sinh ra và lớn lên trong một gia đình danh gia, vọng tộc, hẳn nhiên là Giáo sư Hoàng Minh Giám được chăm sóc chu đáo về chuyện học hành. Từ năm lên 5 đến trên 10 tuổi, Giáo sư chỉ được học chữ Hán – chữ của Thánh Hiền tại gia đình, bởi “ông ngoại tôi không cho tôi học tiếng Pháp – vào khoảng năm 1912- 1913, ông ngoại tôi về nghỉ hưu và chỉ sau thời gian đó ông cụ tôi mới cho tôi học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp”. Từ năm 1914 – 1917, học trường Tiểu học Pháp – Việt Đông Ba; 1917 – 1921 học tại trường Quốc học Huế, từ 1921 – 1923 học tú tài toàn phần tại trường Trung học bảo hộ - Hà Nội. Tròn 20 tuổi tốt nghiệp tú tài; năm 1923 – 1926 học trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Đây là những trường danh giá nhất ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời bấy giờ. Có thể khẳng định, con đường học tập, tích lũy kiến thức và tu nghiệp của Giáo sư về cơ bản là suôn sẻ.Thời gian học tập tại Trung học Bảo hộ, trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội là thời gian xã hội Việt Nam có những biến động sâu sắc. Nước Pháp tuy là nước thắng trận trong chiến tranh thế giới lần thứ Nhất (1914 – 1918), song bị kiệt quệ. Để đối phó với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam, góp phần khôi phục kinh tế, thực dân Pháp đã thi hành một số cải cách về chính trị, mở rộng nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa; tiến hành “cải lương hương chính” ở nông thôn, nới rộng một số quyền lực cho các tầng lớp trên, tạo ra mảnh đất tốt cho chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề”, tạo sự ổn định chính trị, thu hút đầu tư vào Đông Dương. Về kinh tế: thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung cho các lĩnh vực nông nghiệp, thương nghiệp theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, hình thành hệ thống các thành thị kiểu phương tây dẫn đến sự biến đổi, phân hóa giai cấp, giai tầng xã hội. Về văn hóa – tư tưởng: thập kỷ 20 trong lịch sử nước ta được xem như là thập kỷ giao thoa, đan xen giữa các giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại nhập, giữa nền văn hóa thực dân – nền văn hóa chính thống và nền văn hóa mới, văn hóa tiến bộ cách mạng đang định hình. Chính quyền thực dân từ lâu đã sử dụng văn hóa như một thứ vũ khí để quảng bá cho tư tưởng “Pháp – Việt đề huề”, “Pháp – Nam hợp tác”, cho phép Phạm Quỳnh ra tờ “Nam Phong tạp chí” (1917) và cho lập Hội Khai trí Tiến đức (1919) để tập hợp lực lượng trong giới thượng lưu… Đối lập với nền văn hóa thực dân, văn hóa nô dịch đó là nền văn hóa mới, tiến bộ và cách mạng. “Khởi đầu là dòng báo chí tiến bộ với các tờ báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè) của Nguyễn An Ninh, L’Annam (Nước Nam) của Phan Văn Trường. Tiếp đó xuất hiện các thư xã (Nhà xuất bản) ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội. Sự xuất hiện tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách (1925) đả kích lễ giáo phong kiến, đề cao tự do cá nhân, kịch nói “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, “Bạn và Vợ” của Nguyễn Hữu Kim, “Hoàng Mộng Điệp” của Vi Huyền Đắc, “Chàng Ngốc” của Nam Xương…đã hướng tới việc phê phán xã hội đương thời bằng cách bóc trần cảnh lầm than, tủi nhục của những người lao động, miêu tả những xung đột bi kịch giữa lễ giáo phong kiến đã lỗi thời và tự do cá nhân tư sản, đồng thời công khai bộc lộ tình cảm yêu nước thương nòi”.Thời gian nói trên cũng là thời gian Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh 1890 – 1969) thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, gửi tới Hội nghị Vecxay (Versailles) (Hội nghị của các nước thắng trận trong chiến tranh thế giới lần thứ I) Bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam.Tháng 7/1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng ở các nước thuộc địa của Pháp thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) số báo đầu tiên ra ngày 01 tháng 4 năm 1922. Cũng trong năm 1922, Người viết vở kịch “Con Rồng Tre”, tiếp đó xuất bản tập sách “Bản án chế độ thực dân Pháp”. “Mặc dù bọn mật thám ráo riết rò la, truy lùng, ngăn cấm, những tác phẩm, bài báo gọi là phi pháp vẫn do những bàn tay bí mật phân phát và chúng tôi vẫn đọc, đọc say sưa…”. Đó là thời gian ngoài phong trào dân tộc bột khởi rầm rộ còn có phong trào yêu nước đòi tự do dân chủ của giai cấp tiểu tư sản, khởi đầu từ cuối năm 1923 và đạt tới cao điểm vào những năm 1925- 1926 đòi ân xá Phan Bội Châu và tang lễ Phan Châu Trinh. Được tin Phan Bội Châu-yếu nhân của phong trào Đông Du (1905) bị bắt và đang ngồi tù ở Hà Nội, Hội Phục Việt đứng đầu là Tôn Quang Phiệt rải truyền đơn kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu. Khi thực dân Pháp đưa cụ Phan Bội Châu ra tòa Đại hình ở Hà Nội xét xử và kết tội tử hình thì làn sóng phản đối bùng lên mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, thực dân Pháp đã từng bước nhượng bộ, giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân và cuối cùng ngày 25/12/1925, Toàn quyền Varen (Alexandre Varenne) phải ký lệnh “ân xá” Phan Bội Châu. Về tang lễ cụ Phan Châu Trinh (1872 – 1926) một tri thức yêu nước nhiệt thành, nhà dân chủ lớn và tiêu biểu của nước ta đầu thế kỷ XX, Cụ tạ thế ngày 24/03/1926. Khi được tin ông qua đời, nhân dân cả nước bày tỏ tình cảm thương tiếc ông bằng việc tổ chức tang lễ và qua đó, biểu dương sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Tại Sài Gòn, đám tang Phan Châu Trinh được tổ chức trọng thể theo nghi thức quốc gia, ở Huế, Hà Nội lễ truy điệu cũng được tổ chức trọng thể và có thể nói, ở đâu có trường học, ở đó có phong trào truy điệu để tang Phan Châu Trinh.Không khí nóng bỏng nói trên, chắc chắn có tác động tới sinh viên Hoàng Minh Giám. Ông viết: “Trong thời gian tôi học ở trường Cao đẳng Sư phạm, sinh viên và học sinh ở các trường khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đều tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Chinh và những hoạt động yêu nước khác.Cuộc đời sinh viên đã giúp cho tôi trưởng thành, hun đúc thêm lòng yêu đất nước, căm ghét bọn thực dân cướp nước”. Giáo sư viết tiếp:”Anh em chúng tôi là những người hoặc đang đi học tại các trường học của Pháp, hoăc đã là công chức trong bộ máy cai trị của chúng (ngành hành chính, ngành giáo dục, ngành chuyên môn khác…). Một số đặc điểm là chúng tôi đều ít nhiều có tinh thần yêu nước, nói nôm na là “ghét Tây” và khinh bỉ những người nịnh Tây là bọn thực dân Pháp chứ không phải là những người Pháp tiến bộ, nói chung là nhân dân Pháp, bạn của nhân dân ta”. Trên thực tế Giáo sư Hoàng Minh Giám đã tự giác và trực tiếp tham gia các hoạt động yêu nước sôi nổi rộng khắp của các học sinh, sinh viên những năm 1925- 1926.Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Giáo sư Hoàng Minh Giám được “cử” đi dạy ở Trường Trung học Sisowath (Phnom Pênh, Campuchia), mở đầu sự nghiệp trồng người ở bậc trung học của Giáo sư và sự nghiệp này kéo dài 19 năm (tới năm 1945). Trong khoảng thời gian ấy, Giáo sư không bao giờ quên, ấy là khi bị trục xuất khỏi Trường Sisowath sau hai năm đứng trên bục giảng. Trở về Sài Gòn năm 1928, Giáo sư vẫn trung thành với nghề làm thầy và dạy ở các trường tư thục Huỳnh Khương Ninh, Huỳnh Công Phát, An Nam học đường (1928-1931). Thêm một lần nữa thầy bị cấm dạy ở Sài Gòn bởi bị phê là dạy sai giáo trình, hơn thế còn cộng tác và viết bài cho các tờ báo bằng tiếng Pháp có xu hướng tiến bộ ở Sài Gòn, gặp gỡ, mạn đàm với chủ bút của các tờ báo ấy – đó là tờ La Cloche Fêlée (Chuông Rè) của cử nhân Nguyễn An Ninh, L’Annam (Nước Nam) của tiến sĩ Luật học Phan Văn Trường, công khai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, công khai đăng tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (do C.Mác và F. Ănghen soạn thảo), truyền bá tư tưởng mác-xít, bóc trần chủ nghĩa cải lương phản bội lợi ích dân tộc; là tờ Le Nhaque’(Người Nhà quê) của Nguyễn Khánh Toàn, bạn học cùng Khóa III Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội – Người thay mặt sinh viên Đông Dương đọc bài diễn văn “nảy lửa” tố cáo chính quyền thuộc địa thực hiện chính sách tàn bạo, ngu dân và hứa hẹn “cải cách mị chúng”, lúc Alexandre Varenne được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương năm 1926, trực tiếp đả kích chế độ thực dân phong kiến.Trường Tư thục Thăng Long, Ngõ Trạm, Hà Nội - nơi GS Hoàng Minh Giám giảng dạy và làm hiệu trưởng thời kỳ 1935-1945.Năm 1932, thầy giáo trẻ Hoàng Minh Giám về Hà Nội, được sự giúp đỡ, động viên của những người bạn hữu như Phan Thanh, Đặng Thai Mai…, thầy quên ngay chuyện buồn ở Phnôm Pênh, ở Sài Gòn, tiếp tục đứng trên bục giảng tư thục Gia Long, sát cánh cùng các thầy Phan Thanh, Ngô Duy Cẩn, Tôn Thất Bình, Đặng Thai Mai…Ba năm sau (1934), thầy cùng nhóm thanh niên trí thức như: Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Phạm Hữu Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Đặng Vũ Xích, Nguyễn Dương…thành lập Hội Mở mang nền tư thục, chọn Trường Thăng Long làm căn cứ địa và thầy nghĩ “Trường Thăng Long phải xứng đáng là “nghĩa thục” theo gương Đông Kinh nghĩa thục – [việc làm này là nghĩa cử, là kế tục tư tưởng yêu nước của thân phụ thầy – cử nhân, phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong ba người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục năm 1907, quả thật “Hổ phụ” đã sinh “Hổ tử”- PMH]; bàn với Phạm Hữu Ninh, hiệu trưởng Trường Tư thục Thăng Long cũ, ở phố Hàng Cót lúc đó chỉ đến cấp Thành Chung (Lycée Complementaire – Trung học cơ sở) nâng lên cấp tú tài (Lycée Secondaire – Trung học phổ thông) và thầy Hoàng Minh Giám thay thầy Phạm Hữu Ninh làm hiệu trưởng, kiêm nhiệm dạy môn văn học Pháp.Trường Tư thục Thăng Long đã thu hút được nhiều trí thức trẻ tài năng, có tâm huyết, có uy tín, giàu lòng yêu nước tạo nên danh sách cơ hữu các thầy, cô lừng danh: Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Bá Phúc, Phan Anh, Phan Mỹ, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Cao Luyện, Khuất Duy Các, Trương Đình Sửu, Vũ Bội Liêu, Phạm Hữu Ninh, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Lân, Xuân Diệu, Vũ Đình Hòe, Phạm Huy Thông, Lâm Đăng Dụ, Lang Trung Đính, Nguyễn Văn Hội, Vũ Như Trình, Nguyễn Văn Độ, cụ phó bảng Bùi Kỷ, Nguyễn Duy Đính, Lê Thị Xuyến.v.v..Với đội ngũ thầy, cô nổi tiếng như vậy, nên khóa học đầu tiên khai giảng (1935), số học sinh tựu trường đông đến mức không ngờ: 2000 học sinh. Trong số này, có cả những học sinh từ các tỉnh về theo học. Trường Tư thục Thăng Long nhanh chóng trở thành trường có uy tín bởi có chất lượng giảng dạy cao về nội dung, có phương pháp giảng dạy giỏi về hình thức nên dẫn đầu các trường về số lượng học sinh tốt nghiệp các khóa, khiến chính quyền thực dân phải kính nể.Một điểm nhấn đáng quý, đáng trân trọng và nể phục ở ngôi trường này là: Bằng trí tuệ uyên bác, bằng lòng yêu nước thiết tha, bằng sự mẫn cảm về thời cuộc, bằng niềm tin mãnh liệt về tương lai tươi sáng của đất nước, các thầy, các cô truyền thụ cho các thế hệ học trò của mình không chỉ đơn thuần về kiến thức, mà còn hơn thế, qua các môn học lịch sử Việt Nam, văn học Việt Nam, qua các chương trình ngoại khóa còn khéo léo kéo các em ra khỏi vũng bùn hôi hám của chế độ thuộc địa, xa rời lối sống vị kỷ, xa rời những thói hư, tật xấu mà “nhà nước bảo hộ”tạo ra, cổ súy, ru ngủ tuổi trẻ học đường, lãng quên trách nhiệm công dân của một dân tộc vốn có hàng ngàn năm văn hiến, phải biết khinh tởm chương trình giáo dục nhồi sọ, tôn thờ nước mẹ Đại Pháp, “Pháp – Việt đề huề”… khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, trọng anh hùng, trọng nghĩa khí, trọng sự thật…nghĩa là dạy học trò cách tiếp nhận tri thức để trở thành người hữu dụng cho quốc gia, cho dân tộc…Được may mắn học tập dưới một mái trường như vậy, được các thầy, cô giảng dạy, chỉ bảo tận tình như vậy nên nhiều học sinh của trường đã tự nguyện dấn thân vào con đường cách mạng theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ, chấp nhận gian khổ hi sinh để trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này như: Lê Quang Đạo, Đào Thiện Thi, Nguyễn Thành Lê, Võ Thuần Nho, Nguyễn Thọ Châu, Hồ Trúc, Trần Quang Huy, Lê Trung Toản, Dương Thông, Nguyễn Văn Khoa, Lê Khắc (Bộ Ngoại Thương), Lê Khắc (Ủy ban Khoa học – Kỹ thuật Nhà nước), Trần Văn Phác (người kế tục thầy Giám làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa năm 1987), Võ Trí Đạo, Nguyễn Tiệp, Lê Văn, Hoàng Đức Nghi, Mai Nhân, Hoa Nam, Nguyễn Khoa Diệu Hồng, Nguyễn Thị Sinh, Tạ Thị Thanh, Phạm Thị Thược, Thụy Phương v.v ... Nhớ lại những năm tháng sống, giảng dạy tại Trường Tư thục Thăng Long, Giáo sư Hoàng Minh Giám viết: “Nhìn lại, kể từ khi thành lập, nhà trường đã sống trong một thời kỳ lịch sử sôi động của đất nước: Phong trào Đông Du (1905 -1908), Khởi nghĩa Yên Bái (1930), Xô Viết – Nghệ Tĩnh (1930 – 1931), Mặt trận Bình dân (1936 – 1937), Mặt trận phản đế (1939), Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940, rồi mặt trận Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương phát triển lực lượng rộng lớn từ năm 1941, trong lúc thế giới bước vào cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 – 1945). Năm châu bốn biển rung động, trật tự cũ trên khắp thế giới bị đảo lộn…Trải qua những năm tháng ấy, nhà trường đã thực sự là một trong những hạt nhân đỏ của Cách mạng. Hạt nhân đó không phải ngẫu nhiên mà có. Nó là trí tuệ và công sức của nhiều thế hệ thầy và trò của nhà trường góp phần tạo nên. Nó đã được sự chỉ dẫn rất bí mật của Đảng, thông qua một số thầy, kể từ các anh Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp…những hoạt động chính trị, yêu nước, cách mạng như một làn sóng ngầm ngày càng lớn mạnh trong hàng ngũ thầy trò. “Trường Thăng Long đã vận động một đội ngũ giáo viên và học sinh đông đảo tham gia “Hội truyền bá quốc ngữ” trong đó có nhiều người là cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật” mà việc ra đi bí mật của thầy Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng…vào năm 1941 là một ví dụ.Người viết bài này, với kiến thức còn rất hạn hẹp, còn ngu dại nhiều điều, xin mạnh dạn được thưa rằng: Quãng thời gian thầy Hoàng Minh Giám vừa đảm nhận xuất sắc vai trò Hiệu trưởng, vừa là thầy dạy môn văn học Pháp cực giỏi, cực hay nổi tiếng Hà Thành tại Trường Tư thục Thăng Long (1935-1945), chính là thời gian Thầy tự rèn luyện để hoàn thiện nhân cách một con người - cao hơn là nhân cách một thầy giáo - một thầy giáo mẫu mực hội đủ các tố chất nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm; đã bổ sung, làm giàu thêm tri thức và trở thành một trí thức trẻ có học vấn uyên bác về nhiều lĩnh vực; để bồi trúc, củng cố lòng yêu nước, củng cố niềm tin, hoàn toàn ngả về khuynh hướng xã hội chủ nghĩa Cộng sản. Và đó chính là tảng nền, là sinh lực nội tâm vững chắc để khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ra đời ở khu vực Đông Nam Á, theo yêu cầu mở rộng chính phủ lâm thời, theo yêu cầu phải tìm cho được những người tài giỏi, không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc ra phụng sự đất nước, theo sự chỉ đạo trực tiếp và ráo riết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng - Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp đã tiến cử Giáo sư Hoàng Minh Giám tham gia Chính phủ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận.Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Hoàng Minh Giám đọc bản Hiệp ước Sơ bộ trước sự chứng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp, ngày 6/3/1946.Giáo sư Hoàng Minh Giám, không một chút băn khoăn, vui vẻ nhận nhiệm vụ và từ thời điểm này, cuộc đời, sự nghiệp của Giáo sư bước vào trang sử mới, trở thành nhà chính trị, chính khách có bản lĩnh chính trị, có lập trường kiên định, tài năng, kiên quyết, khôn khéo trong ứng xử, tế nhị, đức độ, hào hoa phong nhã và tuyệt đối trung thành với Đảng và Bác Hồ, là nghị sỹ Quốc hội liên tục từ Khóa I đến Khóa VII; Ủy viên thường trực Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa I, Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội Khóa VI; Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao Động- Thương binh và Xã hội), Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Bộ trưởng Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước. “Ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí cũng tận tâm, tận lực phụng sự Tổ Quốc và đồng bào, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Đối với bạn bè, đồng nghiệp và cấp dưới, đồng chí là người bạn, người anh cả khoan hòa, nhân hậu, đầy tình cảm vị tha. Trong đời sống hàng ngày, đồng chí luôn giản dị, khiêm tốn, đồng chí được bạn bè, đồng nghiệp và bằng hữu quốc tế quý mến kính trọng”.(Còn tiếp phần 2)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn