GS. VS. Trần Đại Nghĩa
Trong lịch sử dân tộc, có những cuộc ra đi để trở về, và có những sự từ bỏ để đạt đến sự bất tử. Giáo sư, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (1913 – 1997) chính là người đã thực hiện một cú xoay mình vĩ đại như thế. Từ một Phạm Quang Lễ lừng danh giữa kinh đô ánh sáng, ông đã trở về để làm một ông tiên trong hang đá, đúc thép thành hoa, biến trí tuệ thành những lưỡi gươm bảo vệ sơn hà. Ông là vị phù thủy của nền quân giới Việt Nam, người đã thực hiện một cuộc di cư vĩ đại từ ánh sáng phù hoa Paris về vớ
GS.VS. TRẦN ĐẠI NGHĨA
Trong lịch sử dân tộc, có những cuộc ra đi để trở về, và có những sự từ bỏ để đạt đến sự bất tử. Giáo sư, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (1913 – 1997) chính là người đã thực hiện một cú xoay mình vĩ đại như thế. Từ một Phạm Quang Lễ lừng danh giữa kinh đô ánh sáng, ông đã trở về để làm một ông tiên trong hang đá, đúc thép thành hoa, biến trí tuệ thành những lưỡi gươm bảo vệ sơn hà. Ông là vị phù thủy của nền quân giới Việt Nam, người đã thực hiện một cuộc di cư vĩ đại từ ánh sáng phù hoa Paris về với bóng tối đại ngàn Việt Bắc, để thắp lên ngọn lửa tự do bằng chính bộ óc thiên tài của mình.
Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ), sinh ngày 13-9-1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Chính Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long). Năm 1933, ông đỗ đầu cả hai kỳ thi tú tài (tú tài Tây và bản xứ). Ít ai biết rằng, trước khi trở thành huyền thoại quân giới, Phạm Quang Lễ từng là một báu vật của trí thức thế giới. Mười một năm ở Pháp, ông thâu tóm vào đầu óc mình những tinh hoa cao quý nhất: 4 tấm bằng kỹ sư hàng đầu, một mức lương mà người đương thời nằm mơ cũng không thấy. Nhưng đằng sau những bộ Âu phục sang trọng ấy là một trái tim luôn thổn thức tiếng gọi của lũy tre làng. Đêm đêm, ông bí mật chép tay hàng vạn trang tài liệu về thuốc nổ, về cấu tạo máy bay, xe tăng. Ông lặng lẽ tích lũy tri thức như người ta tích trữ lương thảo cho một cuộc vây hãm dài ngày. Năm 1946, từ bỏ nơi làm việc với mức lương 5.500 France (tương đương với 22 lượng vàng một tháng), Phạm Quang Lễ mang theo hành lý là một tấn tài liệu khoa học – thứ hành lý nặng hơn mọi thứ vàng bạc trên đời, theo Bác Hồ trở về Tổ quốc tham gia công cuộc kháng chiến của dân tộc. Đến ngày 5 tháng 12 năm 1946, Phạm Quang Lễ vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là: “Trần Đại Nghĩa” và chính cái tên đó đã đưa ông đi vào lịch sử về ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam. Đó không chỉ là một danh xưng, mà là một mệnh lệnh thiêng liêng.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề của chiến khu Việt Bắc, ông đã hiện thực hóa những kiến thức hàn lâm thành những vũ khí sát thương cực lớn, trực tiếp thay đổi cán cân lực lượng trên chiến trường. Chiến công đầu tiên và lẫy lừng nhất của ông chính là việc chế tạo thành công súng Bazooka vào năm 1947. Trong lúc quân đội ta còn thô sơ, phải đối mặt với xe tăng và thiết giáp kiên cố của thực dân Pháp, súng Bazooka của Trần Đại Nghĩa xuất hiện như một phép màu. Với khả năng xuyên thủng vỏ thép dày, loại vũ khí này đã khiến quân Pháp khiếp vía trong trận Chùa Trầm và chiến dịch Sông Lô, đập tan huyền thoại về sức mạnh thiết giáp của địch. Ngay sau đó, ông tiếp tục cho ra đời súng không giật SKZ - một loại hỏa lực hạng nặng có trọng lượng nhẹ nhưng sức công phá khủng khiếp, có thể xuyên thủng những lô cốt bê tông cốt thép kiên cố nhất mà trước đó quân ta hầu như không có cách nào đánh bại. Không dừng lại ở kháng chiến chống Pháp, trong giai đoạn chống Mỹ, trí tuệ của Trần Đại Nghĩa tiếp tục tỏa sáng khi ông tham gia nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để khắc chế vũ khí công nghệ cao của đối phương. Ông đóng vai trò quan trọng trong việc tìm ra cách chống nhiễu radar, giúp tên lửa SAM-2 của ta có thể vạch nhiễu tìm thù, góp phần quyết định vào chiến thắng Điện Biên Phủ trên không năm 1972, bắn rơi siêu pháo đài bay B-52. Những phát minh của ông không chỉ là những con số kỹ thuật khô khan, mà là kết tinh của sự sáng tạo không giới hạn trong hoàn cảnh nghèo khó, đặt nền móng vững chắc cho ngành khoa học quân sự và công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện đại.
Ngắm nhìn cuộc đời vĩ đại của Giáo sư Trần Đại Nghĩa, lòng tôi dâng lên một niềm ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc đến nghẹn ngào. Tôi ngưỡng mộ ông không chỉ ở bộ óc thiên tài có thể xoay chuyển những quy luật vật lý khô khan thành sức mạnh hủy diệt quân thù, mà hơn hết là sự tự nguyện từ bỏ. Trong khi bao người khao khát vinh hoa nơi phố hội Paris, ông lại chọn về với hang đá Việt Bắc, chọn bộ quần áo nâu sờn và những bữa cơm đạm bạc để đổi lấy sự tự tôn cho dân tộc. Chính nhân cách cao khiết ấy đã biến ông thành một tượng đài bất tử trong lòng tôi. Ông là minh chứng sống động nhất cho việc tri thức chỉ thực sự lấp lánh khi nó được soi sáng bởi lý tưởng phụng sự. Tôi kính trọng biết bao hình ảnh vị tướng già, dù nắm giữ những bí mật quốc gia và những chiến công lẫy lừng, vẫn chọn cho mình một lối sống khiêm nhường, tĩnh lặng đến tận cùng. Với tôi, bác Trần Đại Nghĩa chính là nhịp cầu đẹp nhất nối liền giữa trí tuệ nhân loại và trái tim Việt Nam – một người anh hùng đã sống trọn vẹn từng nhịp thở cho sự hồi sinh của Tổ quốc, cũng chính là người truyền cảm hứng bất tận cho tôi trên con đường tìm hiểu về những kiến thức rộng lớn của vũ trụ.


