Bài viết

Hai đầu tổ quốc, một mái nhà- 12B4- VCVB

Lào Cai27/08/2026Phường Quyết Thắng (Phường Quyết Thắng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Góc phòng khách trong căn nhà hai tầng nằm sâu trong con ngõ nhỏ ở thành phố Thái Nguyên lúc nào cũng trôi qua lặng lẽ, đượm mùi dầu gió hòa lẫn làn khói thuốc lá phảng phất và thứ ánh sáng chiều tà vàng võ chiếu qua khung cửa sổ. Hơn mười năm trước, một cơn tai biến bất ngờ đổ xuống như trận càn quét đợt hai, khiến một nửa thân người bên trái của ông nội tôi yếu hẳn đi. Cánh tay từng cầm súng săn đuổi địch nơi vùng giáp ranh miền Nam năm xưa giờ đây cử động chậm chạp, gầy guộc và nặng nề mỗi khi ông cố nâng lên. Cơn bệnh không chỉ tước đi sự linh hoạt của cơ thể mà dường như còn rút cạn cả sự tha thiết với cuộc sống đời thường. Ông ít nói hẳn, đôi mắt đục mờ thường nhìn đăm đăm vào khoảng không vô định, và bắt đầu bỏ mặc việc tự chăm sóc bản thân. Chuyện tắm rửa hay sinh hoạt cá nhân với ông trở thành một sự nhọc nhằn lớn lao mà ông luôn tìm cách né tránh. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy một ông lão cộc lốc, xuề xòa và khó tính. Nhưng tôi biết, đằng sau sự buông xuôi ấy là một tâm hồn chưa bao giờ thực sự bước ra khỏi những đầm lầy, bưng rạch khốc liệt năm xưa. Với một người từng ngâm mình dưới nước tù đọng chờ giờ nổ súng, ranh giới sinh tử mỏng như sợi tóc, việc thả lỏng cơ thể hay trút bỏ sự cảnh giác dường như vẫn âm thầm kích hoạt một nỗi lo sợ vô hình trong tiềm thức của người chiến sĩ già.

Chiều nào cũng vậy, nhịp sống trôi qua thật chậm trong căn nhà ngõ nhỏ. Những lúc chiếc TV lớn ngơi nghỉ, không gian lại đắm chìm vào những giai điệu hoài niệm từ chiếc đài radio trên điện thoại. Tiếng loa xè xè phát ra bản nhạc ngâm thơ cũ kỹ hay bản tin thời sự râm ran, hòa cùng tiếng hít một hơi thuốc thật sâu của ông. Tay còn lại kẹp nhành thuốc lá cháy dở, làn khói xám nhạt nhẹ nhàng cuộn bay qua khung cửa, tan vào khoảng sân nhỏ nhạt nắng. Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, trải qua biết bao biến động cùng những lần dịch chuyển từ dải đất Bắc Kạn quê nhà về Thái Nguyên, những kỷ vật thời chiến trong nhà hầu như chẳng còn giữ lại được gì. Chiếc TV phát phim chiến tranh cũ hay tiếng đài radio rít rỉ ấy vì thế trở thành chiếc cầu nối duy nhất đưa ông trở về thời tuổi trẻ rực rỡ và đau thương.

Ông nội tôi rất hiếm khi nhắc đến tên tuổi những người đồng đội hay kể chi tiết từng trận đánh cụ thể. Có lẽ với ông, những nỗi đau ấy quá lớn để cất thành lời. Nhưng qua những dòng ký ức ngắt quãng, tôi biết tuổi trẻ của ông là những chuỗi ngày ngâm mình trong bùn phèn hôi hám dưới bưng rạch, chịu đựng cơn rét run người của sương đêm miền Nam hay cái nóng hừng hực nhọc nhằn trong lòng hầm bí mật chật hẹp. Bữa cơm chiến trường khi ấy chỉ có vắt xôi khô khốc hay ngụm nước đục ngầu, tiếng muỗi kêu vo ve dày đặc quanh người và ranh giới giữa sống và chết chỉ cách nhau một nhịp thở. Những thước phim tư liệu rực lửa hay tiếng cánh quạt trực thăng UH-1 trên TV như tái hiện lại tất cả. Ông ngồi đó hàng giờ liền, nửa người bên trái dẫu yếu ớt vẫn khẽ rung lên theo nhịp pháo nổ. Thi thoảng, chỉ vào màn hình rực lửa, ông lại quay sang nhìn tôi rồi tặc lưỡi đùa một câu tỉnh rụi: "Nếu năm ấy tao mà vào sâu trong miền Nam đánh nhau thì chắc cũng đi rồi...". Lời nói đùa nhẹ hẫng, xem cái chết nhẹ như lông hồng của người từng giằng co sinh tử nơi vùng rìa chiến trường khiến tôi khựng lại. Đằng sau nụ cười chua chát ấy là sự ngậm ngùi về biết bao người đã vĩnh viễn nằm lại phía bên kia ranh giới.

Ngồi bên cạnh ông là bà nội, người con gái Bắc Kạn với ký ức tuổi trẻ gắn liền với những năm tháng cống hiến quên mình. Ngày ấy, vừa học xong lớp 9, bà đã gác lại những mơ ước hồn nhiên của lứa tuổi nữ sinh để nhận lệnh cử đi học ngành y. Hoàn thành khóa học, bàn tay chưa từng vương bụi trần ấy đã dũng cảm xung phong lên thẳng vùng núi cao biên giới phía Bắc, nơi "đầu tổ quốc" trùng điệp núi đá và quanh năm sương muối cắt da cắt thịt. Là nữ y tá nơi miền biên giáp, bà cũng từng trải qua những thiếu thốn ngặt nghèo không kém gì chiến trường miền Nam. Đó là những đêm thức trắng dưới ánh đèn dầu vặt vẹo, giữa cái lạnh buốt xương, bàn tay gầy gò thoăn thoắt băng bó từng vết thương, giằng giật sự sống cho bao chiến sĩ khi thuốc men và dụng cụ y tế thiếu thốn đủ đường.

Chiến tranh khép lại, ông bà trở về quê nhà Bắc Kạn với hai bàn tay trắng nhưng vẹn toàn xóm làng. Qua lời giới thiệu của một người bạn, bà gặp ông. Trong mắt người nữ y tá trẻ ngày ấy, người chiến sĩ trở về từ vùng giáp ranh miền Nam hiện lên với vẻ đàng hoàng, chậm rãi và kiên cường. Sự đồng điệu giữa hai con người từng đi qua gian khó đã tác hợp nên một túp lều tranh. Khoảng những năm 1975 - 1976, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ông bà tôi đã cùng nhau xuống thành phố Thái Nguyên lập nghiệp. Căn nhà đầu tiên khi ấy chỉ là một mái nhà một tầng đơn sơ giữa vùng đất mới. Bà vào làm việc tại Bệnh viện A Thái Nguyên, tiếp tục cống hiến cho ngành y, còn ông lặng lẽ gánh vác việc gia đình, chăm lo cho con cháu bằng sự tảo tần của người lính thời bình.

Nhớ lại ngày trước, khi cả hai chưa bị biến cố sức khỏe ghé thăm, căn nhà một tầng ấy chưa từng hiếm những trận cãi vã rôm rả. Hai cái tôi từng trải qua gian khốc ở hai đầu chiến trường, một người thẳng tính cộc lốc của miền Nam, một người kiên cường và có phần nguyên tắc nơi biên giới phía Bắc, khi về chung một mái nhà khó tránh khỏi những lúc bất đồng. Những câu qua tiếng lại vang lên từ việc nhà nhỏ nhặt, từng làm căn nhà rộn ràng những góc giận dỗi của thời trai trẻ.

Thế rồi trải qua mấy mươi năm, mái nhà một tầng năm nào đã được sửa sang thành căn nhà hai tầng kiên cố trong ngõ vắng. Số phận lại khéo thử thách khi hơn mười năm trước, hai cơn tai biến bất ngờ đổ xuống đời ông bà. Bệnh tật tước đi sự linh hoạt trong giọng nói của bà, khiến lời nói của bà trở nên khó khăn, từng tiếng thốt ra ngập ngừng, không còn rõ chữ, và cũng làm một bên người của ông suy yếu đi. Kể từ ngày ấy, những trận cãi vã thời trẻ đột nhiên biến mất, nhường chỗ cho sự lặng lẽ và kiên nhẫn đến lạ kỳ.

Trong căn nhà hai tầng đượm màu thời gian này, bà nội giờ đây lại là người duy nhất "nói" cho ông nội nghe. Mỗi lần ông nội cộc lốc, nhăn nhó lắc đầu không chịu đi tắm hay từ chối ăn uống đầy đủ, bà lại chậm rãi bước đến, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Lời nói khó khăn vì di chứng, bà chỉ thốt ra vài từ ngắt quãng nhưng tràn đầy sự kiên nhẫn: "Ông ăn…cơm rồi đi… tắm đi". Bà kéo lại chiếc chăn mỏng đắp trên đùi ông, nhẹ nhàng xoa bóp bàn tay yếu ớt đang co quắp của người cựu chiến binh miền Nam. Chỉ vài câu đơn sơ và cử chỉ ân cần ấy thôi, đi kèm ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa xót xa của người nữ y tá năm nào, vậy mà ông nội lại dịu giọng xuống và nghe lời. Cái uy cùng sự dịu dàng của người từng đi qua gian khổ nơi miền biên cương dường như chưa bao giờ mất đi.

Một người từng chiến đấu ở vùng rìa miền Nam với một bên người suy yếu. Một người từng chăm sóc thương binh nơi đầu tổ quốc bị khó nói vì bệnh tật. Hai con người từng một thời to tiếng cãi vã, giờ đây lại chọn cách giao tiếp bằng sự lặng thinh và nhẫn nại. Giữa tiếng đài radio râm ran, bóng chiều tà đổ dài và làn khói thuốc mỏng manh giăng trong góc phòng, bà nội lặng lẽ đưa cho ông ly nước ấm. Ông nội gật nhẹ đầu nhận lấy, dùng bàn tay còn khỏe đặt lên vạt áo bạc màu của bà. Bằng những cử chỉ lặng lẽ không lời và những câu chuyện xưa cũ truyền lại cho cháu con, họ tựa vào nhau, tiếp tục chữa lành cho nhau qua những tháng ngày gian khổ của tuổi già.

-Gia Khánh-12b4- VCVB

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn