Cựu chiến binh

Hai lần hát khúc khải hoàn – Chuyện người lính đi qua hai bản hùng ca của dân tộc

Ở tuổi mười bảy, Trần Xuân Yến lên đường nhập ngũ, trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mười năm sau, ông lại vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu và có mặt trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn ngày 30/4/1975. Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho một thế hệ thanh niên đã dành trọn tuổi xuân để viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc

Thái Nguyên18/07/2026Nguyễn Quang Huy (Chi đoàn Công an xã Đức Lương)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những con người chỉ được nghe kể về lịch sử.

Có những người được tận mắt chứng kiến lịch sử.

Nhưng cũng có những con người đã tự mình viết nên lịch sử.

Khi tìm hiểu về những cựu chiến binh đang sinh sống trên quê hương Thái Nguyên, tôi đặc biệt xúc động trước câu chuyện của cựu chiến binh Trần Xuân Yến – người lính đã hai lần được hát khúc khải hoàn cùng dân tộc: một lần tại Điện Biên Phủ năm 1954 và một lần tại Sài Gòn mùa Xuân năm 1975.

Ít ai nghĩ rằng, người lính già với mái tóc bạc trắng hôm nay từng là một chàng trai mới 17 tuổi khi tình nguyện khoác ba lô lên đường nhập ngũ.

Năm 1952, ông được biên chế vào Đại đoàn 308 – Đại đoàn Quân Tiên Phong, một trong những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông làm nhiệm vụ liên lạc, trinh sát thuộc Trung đoàn 36. Vì người nhỏ nhưng luôn mang trên vai chiếc máy thông tin nặng hơn mười kilôgam, đồng đội thân mật gọi ông là "Yến mốt".

Ông kể rằng, làm trinh sát là công việc vô cùng nguy hiểm.

Ban đêm luồn sâu vào khu vực địch để nắm tình hình.

Ban ngày vẽ sơ đồ, báo cáo phục vụ tác chiến.

Người lính trinh sát phải giữ bí mật tuyệt đối.

Có vũ khí trong tay nhưng nhiều khi không được phép nổ súng.

Mỗi bước chân đều đối mặt với hiểm nguy.

Cuối năm 1953, Đại đoàn 308 nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đó là cuộc hành quân kéo dài hàng nghìn kilômét.

Băng rừng.

Vượt suối.

Qua Đèo Khế.

Qua sông Lô.

Qua phà Bình Ca.

Lên Yên Bái, Sơn La rồi tiến về Điện Biên.

Con đường ấy không chỉ thử thách sức bền mà còn thử thách ý chí của mỗi người lính.

Đến tháng 3 năm 1954, đơn vị của ông thực hiện nhiệm vụ cắt sân bay, ngăn máy bay Pháp tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cuộc chiến ngày càng ác liệt.

Rạng sáng ngày 5 tháng 5 năm 1954, trong một lần làm nhiệm vụ trinh sát, ông bị mảnh pháo cắt vào đầu gối.

Giữa chiến trường khốc liệt, ông chỉ được băng bó sơ cứu ngay tại hầm dã chiến.

Vết thương nhiễm trùng vì bùn đất.

Nhưng ông vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ giữ thông tin liên lạc và đào hầm chiến đấu.

Đọc đến những dòng hồi ký ấy, tôi chợt hiểu vì sao chiến thắng Điện Biên Phủ lại được cả thế giới khâm phục.

Bởi chiến thắng ấy không chỉ được làm nên bằng những khẩu pháo.

Mà còn được làm nên từ ý chí không chịu khuất phục của những người lính như ông Trần Xuân Yến.

Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi quân Pháp đầu hàng, toàn bộ thương binh trong hầm đồng loạt bật dậy, ôm chầm lấy nhau, hô vang:

"Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!"

Ông kể rằng lúc ấy ai cũng khóc.

Khóc vì chiến thắng.

Khóc vì đồng đội.

Khóc vì từ giây phút ấy, họ biết rằng máu của biết bao người đã không đổ xuống vô ích.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông trở về quê cưới người con gái đã chờ đợi mình suốt những năm chiến tranh.

Nhưng hạnh phúc chưa được bao lâu thì đất nước lại bước vào cuộc kháng chiến mới.

Năm 1964, ông tiếp tục lên đường.

Lần này là vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu.

Ông tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột và cùng đoàn quân tiến vào Sài Gòn.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, người lính Điện Biên năm nào lại được chứng kiến thêm một thời khắc lịch sử.

Ông có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất và hòa cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào trung tâm Sài Gòn.

Hai lần ra trận.

Hai lần chứng kiến những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc.

Ít người lính nào có được vinh dự ấy.

Sau năm 1975, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội đến năm 1986 rồi nghỉ hưu.

Dù mang trong mình thương tật chiến tranh và di chứng chất độc hóa học, ông vẫn tích cực tham gia công tác địa phương, làm Bí thư Chi bộ, công tác Hội Cựu chiến binh và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Điều khiến tôi cảm phục nhất không chỉ là những chiến công của ông.

Mà còn là sự khiêm nhường.

Khi địa phương có chủ trương hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, ông đã từ chối và nói một câu khiến tôi không thể nào quên:

"Hãy dành sự tri ân đó cho những đồng đội tôi đã không thể trở về hoặc những gia đình còn khó khăn hơn."

Đó là phẩm chất rất đẹp của người lính Cụ Hồ.

Không đòi hỏi.

Không kể công.

Không nhận phần hơn về mình.

Đối với ông, những tấm huân chương chỉ đơn giản là kết quả của việc hoàn thành nhiệm vụ.

Nhưng đối với thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay, cuộc đời ông là một bài học lớn.

Bài học về lòng yêu nước.

Về tinh thần trách nhiệm.

Về sự hy sinh thầm lặng.

Là một đoàn viên thanh niên, tôi hiểu rằng mình sinh ra trong hòa bình là nhờ biết bao người đã gửi lại tuổi hai mươi nơi chiến trường.

Chúng tôi không phải cầm súng như thế hệ của ông.

Nhưng chúng tôi phải biết gìn giữ hòa bình bằng tri thức, bằng lao động, bằng sự cống hiến và bằng trách nhiệm với Tổ quốc.

Khép lại câu chuyện, trong tâm trí tôi luôn hiện lên hình ảnh người lính già ở phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, cẩn thận nâng niu từng kỷ vật chiến tranh.

Mỗi tấm huân chương.

Mỗi bức ảnh.

Mỗi dòng ký ức.

Đều nhắc nhở chúng ta rằng độc lập, tự do hôm nay không phải điều tự nhiên mà có.

Nó được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao người lính như cựu chiến binh Trần Xuân Yến.

Và với tôi, câu chuyện về ông chính là một "Câu chuyện thời hoa lửa" đẹp nhất.

Không chỉ bởi ông đã đi qua hai cuộc chiến.

Mà bởi sau tất cả những năm tháng bom đạn, ông vẫn giữ trọn lời thề của người chiến sĩ:

Suốt đời sống xứng đáng với Tổ quốc và Nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn