Bài viết

Hai thế hệ và bài thơ

Tết Giáp Ngọ 2014 là Tết thứ ba trong vòng 5 năm, Thượng úy Phạm Đoàn Trung, cán bộ thuộc ngành xăng dầu quân đội trực tại đơn vị. Nghĩ đến người yêu chiều quê trông ngóng, Trung viết thư gửi em vào đúng chiều 30 Tết...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tết Giáp Ngọ 2014 là Tết thứ ba trong vòng 5 năm, Thượng úy Phạm Đoàn Trung, cán bộ thuộc ngành xăng dầu quân đội trực tại đơn vị. Nghĩ đến người yêu chiều quê trông ngóng, Trung viết thư gửi em vào đúng chiều 30 Tết.

Bức thư được mở đầu bằng câu thơ nói hộ người yêu cái tâm trạng vừa thăm dò, vừa trách móc... đồng thời, cũng có ý nhận cái sự xa vắng, không về cùng em đón Xuân là do phía mình: “Hòa bình đã lập lại rồi/ Mà anh đi mãi... xa rời tình em!”. Tiếp theo là “làm lành” rất có sắc thái công tác tư tưởng: “Nghĩ rằng: Chịu đựng cho quen/ Chưa về cũng bởi thương em vô ngần/ Nếu tất cả toàn quân đều nghỉ/ Vũ khí kia han gỉ thì sao?/ Quân thù lợi dụng nhảy vào/ Hỏi còn hay mất núi cao, sông dài!?”- Ký tên: “Người lính em yêu”. Là giáo viên dạy Văn nên cô Hoa cảm nhận rất nhanh sức nặng của bài thơ đã hóa giải nỗi băn khoăn trong lòng mình. Giữa mùa xuân phơi phới mà anh lính của cô không ở bên, âu cũng là bởi hoàn cảnh nhiệm vụ...

Tưởng thế là yên. Nhưng thân phụ của cô thì không yên. Yêu đương gì mà 3 tết liền không có một lần về cùng nhau đón Xuân. Suy từ ông mà ra. Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, đất nước thống nhất, cứ có cơ hội là ông xin cấp trên cho “đi tranh thủ”. Và, có những lần cũng vô phép các cụ, gặp người yêu trước đã rồi mới về nhà, bù lại những năm tháng chiến khu đâu có thể rời trận địa để về với người yêu được. Giờ đây, đất nước đã hòa bình. Chuyện tình yêu trai gái, có là đất thì cũng phải nóng lên. Nói chi đến trái tim người lính!...

Minh họa: Phùng Minh.

Tra hỏi mãi, cuối cùng ông được cô con gái rượu đưa cho bức thư mà chàng trai vừa gửi cho cô. Lướt qua, ông bỗng giật mình. Tại sao anh ta lại có bức thư này? Ông cố kiềm chế cảm xúc... Nói ra lúc này, e rằng chưa “chín” chuyện, lại hỏng việc! Đợi qua Tết, nếu anh ta có về đây, dứt khoát phải làm cho ra nhẽ!

... Sáng nay, Thượng úy Phạm Đoàn Trung đến thăm gia đình người yêu. Ông bố đích thân mời:

- Tết Nguyên đán, anh Trung vì nhiệm vụ không về được. Thì nay Nguyên tiêu, anh ở lại ăn bữa cơm đầu Xuân với chúng tôi. Bà nhà tôi đi lễ chùa, có nhẽ phải đến tối mới về. Ta càng dễ nói chuyện!

Đương nhiên là chàng trai mở cờ trong bụng. Nhưng Hoa thì chợt thấy lo lo. Cô đã ngầm quan sát... Sau cái hôm lục vấn, rồi đọc lá thư cô đưa, bố cô có vẻ đăm chiêu. Nay lại... “Ta càng dễ nói chuyện!”. Cô không dám ngồi ăn cùng mà bố cũng không nói gì cả! Nghe ra, không bình thường rồi!

Cảm nhận của Hoa không sai. Sau lần nâng ly thứ hai, là bắt đầu cái sự “làm cho ra nhẽ”. Cuộc đối thoại diễn ra hệt phong cách của con nhà lính. Ông già đi thẳng vào vấn đề rất chi là... khéo léo:

- Con Hoa có cho tôi xem bài thơ anh Trung viết trong bức thư anh gửi nó mới đây. Hóa ra anh cũng thơ phú được nhỉ!

- Dạ thưa bác! Cháu cũng nói theo các cụ thôi ạ!

- Anh có thể nói rõ được không?

- Thưa bác! Bài thơ ấy, cháu nghe bác Đại tá Phạm Xưởng ở Tổng cục Hậu cần đọc cách nay 9 năm. Hôm ấy bác Xưởng nghỉ phép, dự giao lưu tiễn chân cháu và mấy anh em cùng quê lên đường nhập ngũ. Bác ấy kể là, 32 năm trước, bác ấy đã được nghe ông Đại úy Nguyễn Khắc Dấu, Chính trị viên Tiểu đoàn 370, Binh trạm 170, Cục Xăng dầu truyền lại. Còn ngược về trước thế nào thì cháu chưa được nghe ai nói ạ!

- Bài thơ có từ đời nảo đời nào. Nay anh vẫn dùng để “cưa” con gái tôi. Lại còn ký tên ở dưới!?

- Dạ thưa bác. Cháu nghĩ, bài thơ đã gắn tình yêu lứa đôi với tình yêu đất nước: Nếu mất Tổ quốc thì ai có thể bảo vệ được tình yêu của chúng ta? Tình cảm đồng đội cũng được thể hiện rất chân thực mà khéo léo. Thoạt nghe tưởng như chỉ để lý giải nguyên nhân anh phải ở lại là để trông nom đơn vị và vũ khí... Nhưng cũng chí tình là ở chỗ, anh ở lại còn vì nhường cho những anh em có khó khăn hơn, mẹ già, con dại, vợ yếu... được về động viên gia đình. Bài thơ, nhờ vậy mà nay vẫn nguyên sức sống ạ!

- ... (Gật gù, có vẻ tâm đắc lắm)

- Còn chuyện ký tên. Thưa bác! Cháu có hỏi bác Phạm Xưởng về tác giả của bài thơ. Bác Xưởng bảo là, hồi đó cả đại đội, ai cũng thích bài thơ nhưng không ai để ý đến tác giả của nó. Hầu như trong chiến tranh, người ta coi tất cả những áng văn thơ tuyên truyền cách mạng là của chung... Ông Nguyễn Khắc Dấu giảng bài lúc đó, năm nay phải vào cỡ 90 tuổi. Mà cũng không biết ông đang ở đâu! Họp mặt cựu cán bộ chính trị ngành Hậu cần Tổng cục Hậu cần, không thấy ông. Rốt cuộc, bác Phạm Xưởng bảo, chưa tìm được tác giả của bài thơ thì cứ tạm ghi “Người lính em yêu” là đúng cho mọi trường hợp. Bao giờ biết chính xác ai sáng tác ra nó thì ta “chỉnh lý”.

- Hay! Chính tôi cũng đang bí chỗ này!

- Ồ thế bác...

- Tôi cùng nhập ngũ một đợt với ông Phạm Xưởng. Chúng tôi cùng học bài truyền thống quân đội do cụ Dấu lên lớp, tại đình làng Cổ Châu, gần chợ Chẩy, thuộc xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây cũ. Đúng như anh nói, ngày ấy nào có ai hỏi về tác giả bài thơ đâu, nó như được sản sinh ngay trong cuộc sống thường nhật. Thôi, từ hôm nay, tôi và anh, thuộc hai thế hệ quân nhân cách mạng, tạm gọi bài thơ ấy là bài thơ “Người lính em yêu”...

Bỗng nhiên, cô Hoa từ trong phòng riêng nãy giờ im ắng, ra tận nơi rót rượu cho hai người. “Chén tạc, chén thù” vui hơn Tết. Ngoài sân, nắng Xuân rực rỡ ngàn hoa đào đang khoe sắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn