Hành trình trở thành người đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc P2
Hành trình trở thành người đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc P2
1. Bối cảnh lịch sử của hành trình trở thành người cộng sản của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc
Ở đây có ba bình diện cần được xem xét: hoàn cảnh lịch sử thế giới; điều kiện cụ thể của Paris và nước Pháp, nhất là tình hình phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới I.
Về tình hình thế giới, có bốn yếu tố quan trọng nhất, chắc chắn có tác động rất mạnh mẽ đến Nguyễn Ái Quốc và nhiều chiến sĩ yêu nước, cách mạng khác. Một là, cuộc Đại chiến thế giới I. Cuộc chiến này không chỉ gây ra những tổn thất vật chất, sinh mạng vô cùng to lớn, làm thay đổi cấu trúc quyền lực toàn cầu mà quan trọng hơn, nó làm cho hệ giá trị phương Tây sụp đổ. Trước kia, các nước “mẫu quốc” ở phương Tây được coi là xứ sở của các “dân tộc thượng đẳng”, tiêu biểu cho những giá trị tinh hoa của nhân loại, có sứ mệnh “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhược tiểu ở Á, Phi và Mỹ - Latinh. Khi chiến cuộc diễn ra, các “dân tộc thượng đẳng” đã lao vào chém giết lẫn nhau không thương tiếc, và tự họ đã phủ nhận các giá trị mà bấy lâu nay họ vẫn tự cho là chân lý, là chuẩn mực đạo đức cho toàn nhân loại. Hơn nữa, điều này lại xảy ra trước sự chứng kiến của hàng triệu binh lính bản xứ được họ huy động sang tham chiến ở châu Âu. Cho nên, cuộc Chiến tranh thế giới I chính là nơi bóc trần bộ mặt của các dân tộc “mẫu quốc” và giúp cho nhân dân các xứ thuộc địa thoát khỏi nỗi sợ hãi, sự tự ti và thái độ khuất phục khi đối diện với các giống người “thượng đẳng” phương Tây. Về sau, chúng ta sẽ được chứng kiến sự bộc lộ thái độ mới của Nguyễn Ái Quốc trong tinh thần phê phán khoa học, sự chế giễu sâu cay và lời lên án gay gắt đối với những ông chủ thực dân da trắng và toàn bộ chế độ thực dân phương Tây trong cuốn sách nổi tiếng của Người: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).
Yếu tố thứ hai, có ảnh hưởng to lớn, rất quyết định đối với hành trình từ lập trường yêu nước đến lập trường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc chính là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của chính quyền Xô viết. Trước sự kiện này, CNCS đã ra đời gần 6 thập kỷ và phong trào cộng sản, phong trào công nhân đã từng phát triển khá rầm rộ ở các nước tư bản phương Tây, nhưng hầu như chưa từng có ảnh hưởng gì tới Nguyễn Tất Thành nói riêng, đối với tất cả các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc nói chung. Những ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, thái độ của ông đã thay đổi hẳn, cho dù lúc đầu chỉ là những tình cảm “cảm tính tự nhiên”. Người cho biết: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình; trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết”3.
Yếu tố thứ ba, chắc chắn có ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần, thái độ và tình cảm của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc chính là sự phát triển như vũ bão của phong trào cách mạng vô sản sục sôi ở nhiều nước châu Ấu, nhất là ở Đức, Hungary, Áo, Italy, v.v.. Ở một số nơi đảng cộng sản đã ra đời và chính quyền cách mạng theo mô hình Xô viết được thành lập. Ngay ở các nước tư bản khác, như Anh và Pháp, làn sóng phong trào công nhân và các phong trào xã hội - chính trị theo hướng tả khuynh và cấp tiến cũng giành thế áp đảo. Nguyễn Ái Quốc không những không đứng ngoài các phong trào này mà còn dấn thân vào trong đó, nhờ thế, ông đã tự thay đổi từ trong cả suy nghĩ, hành động và tình cảm.
Yếu tố thứ tư, cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hành trình tư tưởng - chính trị của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc chính là cuộc Hội nghị hòa bình Versailles (ngày 18-1-1919 đến ngày 20-1-1920). Đây là cuộc hội nghị của các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới I nhằm kiến tạo một trật tự thế giới mới, duy trì nền hòa bình thế giới lâu dài. Trong khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn, thực dân Pháp cũng như nhiều cường quốc phương Tây khác không ngớt đưa ra bao nhiêu lời hứa hẹn bùi tai để vỗ về và huy động nhân tài, vật lực của các xứ thuộc địa, đem dốc vào cuộc binh lửa nhằm bảo vệ “mẫu quốc”. Vì vậy, khi chiến tranh kết thúc cũng là lúc nhân dân các xứ thuộc địa tràn trề hy vọng ở những cải cách tiến bộ mà các “mẫu quốc” hứa hẹn. Đã vậy, Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson còn làm cho toàn thế giới bị mê hoặc bởi bản tuyên bố “14 điểm”, trong đó đề cao “quyền tự quyết” của tất cả mọi dân tộc4. Bởi thế, “Ngay sau khi Chiến tranh thế giới I vừa kết thúc, Paris đã trở thành trung tâm cổ động mang tầm cỡ toàn thế giới của các nhóm chống thực dân”; “Ngay đầu mùa hè, một số tổ chức dân tộc chủ nghĩa với tổng hành dinh ở Paris đã công bố các bản yêu sách của mình”5. Chính trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện, với danh nghĩa là người thay mặt cho Hội những người An Nam yêu nước, đưa đến Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson và các đoàn đại biểu dự Hội nghị hòa bình Versailles bản yêu sách 8 điểm nổi tiếng “Revendications du peuple annamite” vào ngày 18-6-1919.
Bản yêu sách đó cùng với tất cả các bản yêu sách của nhân dân các xứ thuộc địa khác đều không được xem xét đến tại Hội nghị Versailles, tuy nhiên, chính là với bản yêu sách này, mà, như sẽ được nói rõ hơn ở phần sau, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tiến một bước dài trên hành trình từ lập trường yêu nước đến lập trường cách mạng vô sản.
Điều kiện lịch sử của Paris nói riêng và nước Pháp nói chung cũng ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Trong xu thế chung cấp tiến hóa thiên tả (leftist radicalization) của Tây Âu, Paris đã trở thành nơi hội tụ và đặt “tổng hành dinh” của rất nhiều loại hình tổ chức cách mạng, cấp tiến đủ mọi xu hướng, tiêu biểu cho chính trường nước Pháp, Tây Âu và toàn thế giới, kể cả các xứ thuộc địa ở Á, Phi và Mỹ Latinh. Dựa trên việc khảo cứu tài liệu lưu trữ và báo chí đương thời, sử gia người Mỹ William J. Duiker cho biết: “Thủ đô nước Pháp có đầy đủ các điều kiện để trở thành “cái lò ấp” chính trị và văn hóa của thế giới phương Tây”; “Dọc bờ tả ngạn (sông Seine), trí thức và sinh viên Pháp cũng như toàn thế giới tụ họp nhau trong các quán café và nhà hàng, cùng thảo luận các vấn đề chính trị và lên kế hoạch cho các cuộc cách mạng”6. Ngay khi từ Anh quay trở về Paris, Nguyễn Tất Thành đã tham gia ngay vào các sinh hoạt chính trị sôi động đó. Chính trong môi trường chính trị và văn hóa sôi động, cấp tiến như thế, Người đã đạt được những bước tiến bộ nhanh chóng, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện thực tiễn và lý luận để cuối cùng trở thành một đảng viên cộng sản.
Tình hình phát triển của phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ I cũng là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến hành trình tư tưởng - chính trị của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc. Trong khi nước Pháp bị cuốn vào cuộc đại chiến thế giới, nhiều nhóm người Việt Nam yêu nước đã phán đoán cơ hội giải phóng dân tộc sẽ đến gần. Họ cùng chia sẻ hy vọng nước Đức sẽ một lần nữa đánh bại nước Pháp như hồi cuối thế kỷ XIX. Vì vậy, dù ở trong tù ngục, Phan Bội Châu vẫn chỉ đạo các đồng chí của cụ tìm cách liên lạc với Lãnh sự quán Đức ở Thiên Tân (Trung Quốc) và Đại sứ quán Đức ở Bangkok (Thái Lan) để cầu viện và chuẩn bị khởi nghĩa7. Ở Paris, dường như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và một số người khác cũng tìm cách liên lạc với nước Đức. Tuy nhiên, kết cục của cuộc chiến đã khiến cho những nhóm người Việt Nam yêu nước thất vọng sâu sắc: nước Pháp đã cùng phe Hiệp ước đánh bại Đức và phe Trung tâm. Trong tình hình đó, dù tiếng súng khởi nghĩa ở Thái Nguyên vẫn nổ vang thì phong trào yêu nước đã bị rơi vào thế bế tắc, khủng hoảng trầm trọng. Con người cả quyết, kiên cường như Phan Bội Châu cũng ngã lòng, khi công bố hai tác phẩm Pháp - Việt đề huề chính kiến thư và Dư cửu niên lai sở trì chủ nghĩa. Còn ở Pháp, sau khi được thả ra khỏi nhà lao, Phan Châu Trinh càng kiên trì với chủ trương bất bạo động, phản đối ôn hòa và ỷ Pháp cầu tiến. Tình hình trên, nhìn qua có vẻ bất lợi cho Nguyễn Tất Thành và những người Việt Nam yêu nước trẻ tuổi, hăng hái và cấp tiến. Song, xem xét kỹ thì rõ ràng một cuộc “bàn giao thế hệ” lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đang đi đến độ chín muồi.
Cùng với đó, một yếu tố khác mới xuất hiện, cũng đóng vai trò quan trọng: ở trong nước - đó là sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, từ khoảng trên 5,1 vạn người trước Chiến tranh thế giới I tăng lên trên 22 vạn người trong những năm sau chiến tranh. Riêng ở Pháp, trước chiến tranh số người Việt Nam ở Pháp chỉ khoảng trên dưới 100 người, nhưng sau chiến tranh, con số này lên đến khoảng 50.000 người, phần lớn tập trung ở Paris và một số thành phố lớn, như La Havre, Marseilles, v.v.. Đa số họ là nhân dân lao động nghèo khổ, bị huy động đưa sang “mẫu quốc” làm lính thợ. Hàng trăm người khác là học sinh, sinh viên. Đây chính là mảnh đất màu mỡ để gieo mầm cho những tư tưởng, chiến lược và sách lược mới, và cũng là nơi Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc gắn bó, dấn thân hoạt động.


