Hành trình trở thành người đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc P3
Hành trình trở thành người đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc P3
2. Hai phương diện chính của hành trình đến với chủ nghĩa cộng sản của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái quốc
Hoạt động thực tiễn
Dấn thân tích cực vào hoạt động tực tiễn là một đặc điểm cơ bản, nổi bật nhất của toàn bộ quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc. Vừa lao động kiếm sống bằng chính sức lực của mình, vừa tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm, rồi vận dụng kinh nghiệm làm cho thực tiễn biến đổi - đó là cách thức hoạt động thực tiễn của Người ngay từ khi rời bến cảng Nhà Rồng năm 1911 cho đến khi trở thành người đảng viên cộng sản. Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung khảo cứu về hoạt động thực tiễn của Người ở Paris từ cuối năm 1917 đến cuối năm 1920, trên ba loại hình hoạt động chính: lao động kiếm sống; tham gia các hoạt động xã hội - chính trị ở Pháp; tham gia hoạt động trong phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam.
Về công việc lao động kiếm sống của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc trong thời gian từ cuối năm 1917 đến cuối năm 1920, theo như chính Người cho biết thì: “... tôi đi làm thuê ở Pari, khi thì làm cho một cửa hàng phóng đại ảnh, khi thì vẽ “đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa” (do một xưởng của người Pháp làm ra!)”8. Thông tin này là hoàn toàn chính xác, được những nguồn tài liệu độc lập khác, như báo cáo của những viên mật thám theo dõi Nguyễn Ái Quốc hồi đó xác nhận9. Cuộc sống lao động chân tay vất vả đã trở nên quen thuộc với Người từ khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, bằng nghề phụ bếp trên con tàu Amiral Latouche-Tréville. Mấy điểm cần nhấn mạnh ở đây là: Với cuộc sống lao động vất vả đó, Nguyễn Ái Quốc đã tự giác “vô sản hóa”, thực sự trải nghiệm cuộc đời lao động của giới cần lao. Thứ hai, mục đích tham gia lao động của của Người không chỉ là kiếm sống, trang trải cho những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của bản thân, mà còn nhằm kiếm tiền phục vụ cho công việc học, tập, nghiên cứu và tuyên truyền cách mạng. Viên mật thám theo dõi ông cho biết: Nguyễn đã dành dụm được, vào đầu tháng 3-1920, khoảng 300 francs cho việc tự mình xuất bản một cuốn sách do Người viết10.
Loại hình hoạt động thực tiễn thứ hai mà Nguyễn Ái Quốc dấn thân tham gia rất tích cực là các hoạt động chính trị - xã hội ở châu Âu, nước Pháp, đặc biệt là ở Paris. Đây là một sự khác biệt rất lớn, rất căn bản giữa Ngưyễn Ái Quốc và tuyệt đại đa số những người Việt Nam ở Pháp khi đó. Ngay khi vừa đến Paris, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến và tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ, như đã nói ở trên - đang xuất hiện ngày càng nhiều ở Paris. Người kể lại: “Tôi dự rất đều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến”11. Một trong những câu lạc bộ chính trị mà chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành tham gia đầu tiên, ngay khi vừa “chân ướt chân ráo” đến Paris là Club du Faubourg, một câu lạc bộ của Đảng Xã hội Pháp do Léo Poldès thành lập, ở ngay gần đồi Montmarrtre, nơi Người tìm được chỗ tạm trú trong một khách sạn nhỏ, bình dị. Boris Souvarine - người đã giới thiệu Nguyễn Tất Thành tham gia câu lạc bộ nói trên nhớ lại hình ảnh và thái độ của ông Nguyễn hồi đó như sau: “đó là một chàng trai trẻ cực kỳ dè dặt, thậm chí hơi nhút nhát, rất lịch thiệp và khao khát học hỏi. Anh rụt rè đến mức những thành viên khác trong câu lạc bộ gọi đùa anh là “chàng câm đồi Montmarrtre”12. Léo Poldès đặc biệt ấn tượng với đôi mắt rực sáng của chàng trai trẻ và tinh thần ham học hỏi của anh. Ông nhận ra đằng sau vẻ ngoài rất lịch thiệp, nhã nhặn, có vẻ rụt rè của anh là nghị lực phi thường. Poldès động viên Nguyễn Tất Thành lên tiếng, tham gia thảo luận. Trong lần phát biểu đầu tiên, ông Nguyễn đã nói về nỗi khổ cực của đồng bào mình dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Ông hồi hộp và xúc động đến nỗi có lúc lắp bắp, nói không nên lời. Nhưng mọi người đã động viên ông bằng những tràng hoan hô kéo dài. Sau đó, Nguyễn Tất Thành tự tin hơn, tham gia ngày càng tích cực hơn và các cuộc thảo luận. Chính nhờ tham gia tích cực trong các câu lạc bộ cấp tiến và các cuộc hội họp của Đảng Xã hội Pháp mà Nguyễn Tất Thành đã gặp và kết bạn thân thiết với những nhà hoạt động nổi tiếng, những văn sĩ lừng danh, như Paul Louis, Jacques Doriot và Henri Barbusse13.
Mở rộng hơn nữa phạm vi hoạt động, nhất là tham gia vào các tổ chức công đoàn và phong trào công nhân Pháp ở Paris, Nguyễn Tất Thành ngày càng có dịp gặp gỡ với nhiều nhân vật có uy tín lớn trong Đảng Xã hội Pháp nói riêng và trên chính trường nước Pháp nói chung. Theo William J. Duiker thì đến cuối năm 1918, Người đã trở thành bạn thân thiết với các chính khách nổi tiếng như Marcel Cachin, Paul Vaillant-Couturier, Léon Blum, Edouard Herriot và Jean Longuet (con rể Karl Marx). Tuy vậy, phải đến cuối tháng 6-1919, sau khi đưa bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị hòa bình Versailles, Nguyễn Ái Quốc mới chính thức trở thành một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp14. Sau này, Hồ Chí Minh cho biết: “Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy - (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) - đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa biết”15.
Với tinh thần cầu thị, ham học hỏi, lại luôn luôn gắn chặt việc tìm hiểu lý luận với việc tổng kết, đối chiếu với kinh nghiệm thực tiễn đã đúc rút được trong thời gian bôn ba khắp các châu lục, nhận thức của Nguyễn Ái Quốc trưởng thành rất nhanh chóng. Người cũng tham gia tích cực vào các hoạt động Tổng Liên đoàn Lao động và Liên đoàn quyền dân sự Pháp (Ligue des Droits de l’Homme)v.v.. Thông qua hoạt động thực tiễn, Người còn học hỏi được rất nhiều điều bổ ích, từ cách thức tổ chức một chính đảng, từ cấp cơ sở (chi bộ) cho tới cấp trung ương; kỹ năng tranh biện, diễn thuyết chính trị. Từ một người rụt rè, hồi hộp, lắp bắp trình bày ý nghĩ còn rời rạc của mình trong những buổi sinh hoạt câu lạc bộ hồi cuối năm 1917, đến giữa năm 1919 Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhà hùng biện thực sự. Người tham gia vào các diễn đàn, tranh luận và thường xuyên được mời phát biểu nhiều lần, và Người được công chúng hoan hô nhiệt liệt. Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Ái Quốc còn học hỏi và rèn luyện được cho mình kỹ năng tuyên truyền, đặc biệt là thông qua truyền đơn và báo chí. Với sự giúp đỡ của hai người bạn thân, cũng là những nhà báo rất nổi tiếng là Gaston Monmousseau và Jean Longuet, Nguyễn Ái Quốc đã tập viết báo bằng tiếng Pháp. Sau nhiều nỗ lực, bài báo đầu tiên của Người với tiêu đề “La question indigène” (Vấn đề người bản xứ) đã được in trên tờ L’Humanité số ra ngày 2-8-1919. Vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống thi thư, nên sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã trưởng thành rất nhanh trong nghề cầm bút. Người viết nhiều bài đăng trên các tờ báo cánh tả ở Paris, tập trung vào việc phản ánh thực trạng ở Đông Dương và các thuộc địa khác, phê bình gay gắt các chính sách thống trị và bóc lột của thực dân Pháp. Người khẳng định nhiều lần, rằng chế độ thực dân Pháp không mang lại cho dân chúng bản xứ bất kỳ cái gì, ngoại trừ sự cùng khổ16.
Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu khởi thảo cuốn sách đầu tiên của mình bằng tiếng Pháp với tiêu đề “Lé opprimes” (Những người bị áp bức). Với sự giúp đỡ của nhà hoạt động xã hội Paul Vigné d’Octon, ông đã dày công lục tìm trong Thư viện quốc gia Pháp các tài liệu tham khảo có giá trị, miệt mài tra cứu và biên soạn, sửa chữa bản thảo. Như đã nhắc ở trên, đến khoảng giữa tháng 3-1920, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành về cơ bản công trình đầu tay của mình. Ông cũng lao động quên mình để dành dụm được khoảng 300 francs cho việc xuất bản cuốn sách. Nhưng, một đêm ông trở về nhà sau ngày dài lao động cực nhọc, bản thảo công trình đã biến mất. Kẻ đã đánh cắp tập bản thảo không thể là ai khác ngoài những viên mật thám đang bám sát Người từng ngày17.
Rõ ràng là với việc dấn thân vào hoạt động thực tiễn chính trị-xã hội ở Paris từ cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã có bước trưởng thành nhanh chóng và toàn diện. Từ một người còn khá xa lạ với hoạt động chính trị, ông đã thực sự trở thành một “nhà cách mạng chuyên nghiệp” có năng lực, uy tín ngày càng được bồi đắp và khẳng định chắc chắn. Đây là những tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc trở thành một lãnh tụ cộng sản khi còn khá trẻ.
Loại hình hoạt động thực tiễn thứ ba mà Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc dấn thân hoạt động chính là trong phong trào yêu nước Việt Nam.
Linh hồn của hầu như toàn bộ phong trào yêu nước của cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở Pháp, nhất là ngay tại Paris, chính là Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường. Đến Paris, Nguyễn Tất Thành được Phan Châu Trinh, che chở, giúp đỡ, vừa tạo điều kiện về nơi làm việc và chỗ ở, vừa giới thiệu anh với các nhóm đồng bào yêu nước ở Pháp. Nhưng, như đã trình bày ở trên, Nguyễn Tất Thành sang Pháp vào lúc toàn bộ phong trào yêu nước Việt Nam đang lâm vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc. Báo cáo của những viên mật thám theo dõi Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành cho thấy bên trong ngôi nhà của cụ Phan ở Villa des Gobellins đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận sôi nổi về hướng đi của phong trào yêu nước Việt Nam. Không ít khi những cuộc tranh luận đã trở nên gay gắt. Trong khi Nguyễn Tất Thành và một số chiến sĩ yêu nước trẻ tuổi khác như Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền muốn tiến hành một số hoạt động nào đó quyết liệt để thúc đẩy phong trào yêu nước thoát ra khỏi thế bế tắc, thì cụ Phan Châu Trinh lại không đồng ý. Cụ cho rằng ở thời điểm đó, thôi thúc đồng bào làm việc gì đó chống lại chế độ thực dân thì không khác nào hành động tự sát vô nghĩa, bởi trình độ dân trí còn thấp, không có vũ khí trong tay v.v.. Cụ Phan vẫn tiếp tục cố thuyết phục Nguyễn Tất Thành và các chiến sĩ yêu nước trẻ tuổi kiên trì với tư tưởng “ỷ Pháp cầu tiến”. Đáp lại, Nguyễn Tất Thành nói: “Nhưng tại sao hai mươi triệu đồng bào ta lại không thể làm gì đó để buộc chính phủ bảo hộ đối xử với chúng ta như những con người? Chúng ta là người, chúng ta phải sống làm người. Bất kỳ ai không muốn đối xử với chúng ta như đồng loại của họ thì họ chính là kẻ thù của chúng ta. Họ đối với chúng ta là bất cộng đái thiên”18.
Mặc dù ý kiến giữa hai thế hệ chiến sĩ yêu nước ngày càng trở nên khác biệt, song Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường vẫn dành cho Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền tình cảm yêu quý và sự chăm sóc, giúp đỡ tận tình. Về phía mình, ba chàng trai trẻ đều dành cho hai “cụ già” sự kính trọng chân thành, sâu sắc. Họ được bà con người Việt hồi đó gọi là “Nhóm Ngũ long” - linh hồn và niềm hy vọng của phong trào yêu nước Việt Nam19.
Trong số ba người trẻ tuổi, Nguyễn An Ninh dường như tập trung toàn bộ tâm sức vào việc học tập và nghiên cứu lý luận, trong khi Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thế Truyền lại dấn thân vào cuộc sống lao động và ra sức hoạt động trong cộng đồng hàng vạn người Việt Nam đang có mặt ở Paris. Nhờ đó, các ông hiểu rõ hơn đời sống, tâm tư của các giới đồng bào, tìm cách vận động và đoàn kết họ lại. Khoảng đầu mùa Hè năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đưa ra sáng kiến thành lập Hội những người An Nam yêu nước (Association des Patriotes Annamites), thay thế cho Hội đồng bào thân ái do Phan Châu Trinh thành lập trước đó, với mục đích là để đoàn kết rộng rãi hơn nữa đồng bào ta ở Pháp và Paris. Ngay lập tức sáng kiến này được cụ Phan Châu Trinh và toàn thể “Nhóm Ngũ long” ủng hộ. Nguyễn Tất Thành đã trở thành nhân vật tích cực nhất của tổ chức này. Ông bôn ba khắp các thành phố lớn, nhất là Paris, Toulon, Marseilles và La Havre v.v.. để vận động hàng trăm người, bao gồm cả học sinh, sinh viên và công nhân, lính thợ v.v.. tham gia vào tổ chức20.
Ngay khi Hội những người An Nam yêu nước thành lập cũng là lúc không khí chính trị ở Pháp và toàn thế giới trở nên nóng bỏng với những tin tức về Hội nghị hòa bình Versailles. Nguyễn Tất Thành nêu ra đề nghị: Hội cần phải gửi một bản kiến nghị đến Hội nghị Versailles, giống như nhân dân nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc khác đang làm. Đề nghị của ông được đồng bào nhiệt liệt ủng hộ. Với sự giúp sức của luật sư Phan Văn Trường, ông đã soạn thảo xong bản kiến nghị 8 điểm “Revendications du people anamites”, ký tên Nguyễn Ái Quốc rồi tự mình đem đến cung điện Versailles trao tận tay cho đại diện của các cường quốc vào ngày 18-6-191921.
Dường như ngay từ đầu Nguyễn Ái Quốc đã không gửi gắm nhiều hy vọng vào việc các cường quốc tại Hội nghị hòa bình để mắt đến bản kiến nghị, cho nên, để khuếch trương ảnh hưởng của bản kiến nghị trong công luận Pháp, nhất là trong hàng vạn đồng bào Việt Nam ở Pháp và nhân dân trong nước, ông đã để tờ báo L’Humanité đăng toàn văn bản kiến nghị. Đồng thời, ông cũng nhờ cậy Tổng liên đoàn lao động Pháp in giúp bản kiến nghị thành 6 nghìn tờ, phân phát rộng rãi trong cộng đồng người Việt Nam ở Pháp22.
Tại Hội nghị hòa bình Versailles cũng như tại Quốc hội Pháp, người ta đã không thể phớt lờ bản kiến nghị 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc. Ngài House, trợ lý cấp cao của Tổng thống Mỹ Wilson đã ngay lập tức gửi liền hai bức thư cảm ơn ông Nguyễn về việc đã gửi bản kiến nghị và cam kết sẽ chuyển đến Tổng thống Mỹ. Sau đó, vấn đề thuộc địa cũng được tranh luận sôi nổi tại cả Hội nghị hòa bình và trong Quốc hội Pháp. Chỉ có điều sau đó đã không có bất kỳ giải pháp nào được đưa ra.
Bản kiến nghị 8 điểm và cái tên Nguyễn Ái Quốc đã thực sự gây chấn động mạnh giới cầm quyền thực dân ở cả Việt Nam và Paris. Ngày 23-6-1919, Albert Sarraut đã nhận được bức điện khẩn từ Đông Dương cho biết việc tài liệu nói trên đang được phân phát ngay trên đường phố Hà Nội và nhiều nơi khác, làm chấn động dư luận. Họ yêu cầu Sarraut giúp đỡ nhanh chóng xác nhận nhân thân của nhân vật “Nguyễn Ái Quốc” và tìm cách “giải quyết” vấn đề.
Chẳng phải để Sarraut và đội quân mật thám hùng hậu của thực dân Pháp phí công sức tìm kiếm, ngay trong đầu tháng 9-1919, Nguyễn Ái Quốc đã công khai danh tính, nhân thân của mình, thậm chí ông còn nói thẳng điều này với Paul Arnoux, trùm mật thám Đông Dương khi đó đang có mặt tại Paris23. Và chính Arnoux đã đề nghị Bộ trưởng bộ Thuộc địa Albert Sarraut gặp trực tiếp Nguyễn Ái Quốc. Cuộc gặp giữa hai nhân vật tiêu biểu cho cuộc đối đầu lịch sử giữa thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam đã diễn ra vào ngày 6-9-1919. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết cho Sarraut một bức thư, gửi kèm một lần nữa bản yêu sách 8 điểm của ông, chỉ ra sự giả dối trong các luận điệu tuyên truyền của Sarraut và thực dân Pháp.
Có thể nói, với việc đưa bản kiến nghị 8 điểm đến Hội nghị hòa bình Versailles, đặc biệt là với việc làm cho tinh thần của bản kiến nghị đó lan tỏa mạnh mẽ ở cả Pháp và Đông Dương, rồi chấp nhận đối diện trực tiếp với Sarraut và Arnoux, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy, mở lối cho phong trào yêu nước Việt Nam thoát khỏi tình thế bế tắc, khủng hoảng.
Kể từ đó, mỗi bước chân, mỗi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đều bị mật thám Pháp theo dõi rất kỹ càng. Nhưng cũng kể từ đó, Nguyễn Ái Quốc trở thành ý chí, hy vọng và niềm tin của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam.
Như vậy, thông qua dấn thân hoạt động thực tiễn, chỉ trong vòng gần 3 năm, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã có những bước trưởng thành vượt bậc, từ một chiến sĩ yêu nước đơn thuần, ít kinh nghiệm hoạt động chính trị, đã trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp theo lập trường xã hội chủ nghĩa, làm chủ những kỹ năng tổ chức, thuyết trình và viết sách báo chính luận và soạn tài liệu tuyên truyền; từ một thanh niên yêu nước không tên tuổi, luôn tỏ ra nhút nhát, thành một lãnh tụ trẻ kiên cường, tự tin, dũng cảm của phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là những điều kiện, những tiền đề quan trọng nhất để Người trở thành một đảng viên cộng sản vào cuối năm 1920.
Học tập, nghiên cứu lý luận
Trong quá trình dấn thân hoạt động thực tiễn, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc không ngừng tìm tòi, học tập, nghiên cứu lý luận và chính điều này cũng đóng vai trò rất quyết định trong hành trình chuyển biến từ lập trường yêu nước chân chính sang lập trường cộng sản chủ nghĩa.
Như Người cho biết, ở thời điểm cuối năm 1917, khi mới quay về Pháp, Nguyễn Tất Thành hầu như chưa có hiểu biết chắc chắn về các vấn đề lý luận chính trị: “Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu”; và “... trước đó, tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin viết”24. Khi đó, yếu tố dẫn dắt hoạt động thực tiễn của Người chỉ là “cảm tính tự nhiên”, là tình cảm yêu nước nồng nàn.
Sau khi dấn thân vào hoạt động chính trị-xã hội, Nguyễn Tất Thành phát hiện ra những thiếu hụt trong nhận thức lý luận. Với sự giúp đỡ của một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp và một số nhà văn, nhà báo, Người bắt đầu tự mày mò, học tập lý luận. Ông đọc khá rộng, từ các tác phẩm văn học đến các công trình lịch sử, lý luận. Nhưng lúc đầu, việc này rất nặng nề với Nguyễn Tất Thành. Có lần ông đề nghị Jean Longuet - con rể Marx, cắt nghĩa cho ông về chủ nghĩa Marx. Longuet lắc đầu ngao ngán, bảo: vấn đề quá lớn và quá phức tạp, anh hãy đọc bộ Tư bản ! Nguyễn Tất Thành liền vào thư viện tìm và đọc bộ Tư bản của Marx, nhưng càng đọc ông càng thấy vấn đề phức tạp hơn. Ông thử đọc rộng ra các sách vở mác xít khác thì thấy cũng không sáng sủa hơn. Cuối cùng, ông đành gối đầu lên bộ Tư bản và ngủ thiếp đi lúc nào không hay25.
Có thể thấy, nếu Nguyễn Ái Quốc tiếp cận kho tàng lý luận của chủ nghĩa Marx theo cách “trường quy”, thông thường thì chắc chắn ông đã thất bại, bởi không chỉ thiếu hụt nền tảng tri thức, mà rõ hơn là thiếu động cơ để tìm tòi, học hỏi.
Nhưng nhờ dấn thân vào các cuộc tranh luận của các nhóm đảng viên Đảng xã hội Pháp, nhất là đối với vấn đề nên ủng hộ Quốc tế thứ hai hay Quốc tế thứ ba, hay lập ra Quốc tế hai rưỡi, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra chìa khóa của vấn đề.
Vấn đề mấu chốt nhất, luôn canh cánh trong tâm trí của ông là: “vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?”; “Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo”26.
Với động cơ rất rõ ràng là: đọc để tìm ra câu trả lời cho “câu hỏi quan trọng nhất” của mình, nhưng việc tiếp nhận và hiểu rõ Luận cương của Lênin với Nguyễn Ái Quốc ở vào thời điểm tháng 7-1920 vẫn không dễ dàng, bởi “những chữ chính trị khó hiểu”. “Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên”. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc “hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”


