HÀO KHÍ DU LỄ - DẤU SON THỜI HOA LỬA
Trương Nữu, người có công tham gia cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng hồi thế kỷ thứ 8 đánh đuổi đô hộ nhà Đường
HÀO KHÍ DU LỄ – DẤU SON THỜI HOA LỬA
Thực hiện đề án của Trung ương Đoàn về tiếp tục triển khai câu chuyện Thời hoa lủa, chúng tôi BCH Đoàn xã đã tìm đến cụ Phạm Tiến Tiệm – sinh năm 1932 – Quê ở Thôn 3 Du Lễ, xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng. Chúng tôi được nghe cụ kể về khu Di tích miếu Đoài thuộc thôn 4 Du Lễ, xã Nghi Dương Thành Phố Hải Phòng, thờ vị Thành hoàng làng Trương Nữu, người có công tham gia cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng hồi thế kỷ thứ 8 đánh đuổi đô hộ nhà Đường. Khi mất, ông được nhân dân địa phương lập miếu thờ trên nền tư dinh cũ của người và suy tôn là Thành hoàng làng .
Miếu Đoài là di tích lịch sử được xây dựng và tọa lạc trên vùng đất thuộc xã Du Lễ.
Theo các tư liệu còn lưu giữ cho thấy: miếu Đoài có lịch sử xây dựng từ rất lâu đời. Hiện miếu Đoài có bố cục kiến trúc chữ đinh gồm 5 gian tiền đường và 1 gian hậu cung. Dù trang trí trên kiến trúc được trên các thanh rường, đấu kê, bảy hiện cũng như qui mô của công trình không thực sự to lớn song các đồ thờ bên trong như khám tượng, bài vị, long đình, câu đối được sơn son thếp vàng khá cổ kính, tạo thành một không gian thiêng liêng của chốn thờ tự thành hoàng, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương
Cụ kể rằng: Theo thần tích văn bia xã Du Lễ vào năm 737 có người họ Trương tên là Liễu, người châu Khoái Lan nhập tịch ở trang Du Lễ (tức quê vợ của ông) thuộc Huyện Nghi Dương, Phủ Kinh Môn, Xứ Hải Dương. Vợ ông là Hoàng Thị Cầu vốn là người đức độ, hiền lành, tài sắc kiêm toàn, chỉ hiềm nỗi muộn mằn về đường con cái. Một hôm bà bảo với chồng rằng: “ Người xưa thường nói ba mươi tuổi mà chưa có con là tội bất hiếu, nay sắp đến bốn mươi mà con cái còn muộn, việc hương hoả thờ cúng về sau biết phó thác cho ai? Chẳng bằng tán tài làm phúc, câù đảo thần minh, may ra có điềm lành, an ủi lúc bình sinh, sớm đạt được ước nguyện”. Chồng bà đáp rằng: “ Tốt thay lời bà, ý của tôi cũng muốn như vậy, nay bà phát huy tâm tính, lẽ nào tôi lại từ chối”. Sau đó vợ chồng biết tin chùa Thiên Mộ là nơi danh thắng, trước đây Lý Quát cầu đảo ở chùa này sinh hậu Lý Nam Đế, hễ ai cầu đảo điều gì đều được như ý. Ông bà lập tức sắm đủ hương lễ đến cầu đảo ở chùa, lòng thành được cảm cách. Ông bà trở về nhà, uyên ương cùng gối, loan phượng thắm nồng, chưa bao lâu thì vợ ông mang thai. Lúc sắp sinh bà mộng thấy một người mang một buồng cau, quả tươi nguyên đầy đặn bảo rằng: “ Ta trao cho bà để làm giống, lại trao cho một chiếc vòng vàng, nói rằng đeo chiếc vòng này để làm gia bảo, tất sinh người con đại thành, là người tuấn vũ, nổi danh ở đời, rạng danh cho nhà cửa, mãi mãi hưởng phúc khánh vậy.” Phu nhân của ông vui vẻ tỉnh dậy, đột nhiên chuyển động tâm thần, sinh ra một người con trai, hôm ấy là ngày 15 tháng 9 năm Đinh Sửu. Tướng mạo người con đường hoàng, phong tư lẫm liệt, tay trái có sẹo đen như đồng tiền, mắt to sáng như điện, tiếng ngân như chuông. Ông Liễu vui mừng cho đây là phúc trùng lai, do trời ban tặng. Nhân tán từ giấc mộng, nói cây cau thuộc loài mộc, vòng vàng thuộc đồ quý, lại vì sinh vào năm Sửu, lấy gốc là bộ Mộc, cho nên đặt tên là Nữu, tên chữ là Nguyên Hoàn.
Đến khi trưởng thành, sức lực hơn người, dũng lực nghìn người cũng không địch nổi, có thể bạt cây nhấc đá. Thân phụ thấy thế làm lạ, mới truyền cho thuật bắn cung, cưỡi ngựa, đánh đáo, dạy cho cách đánh côn, đấu kiếm không điều gì không chỉ bảo chu đáo. Lại có tài văn học sáng láng đa mưu, thành người danh vọng một thời, thường cùng Đỗ Anh Hàn, Triệu Cử, Lục Hàm kết giao làm bạn, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, tương kính tương ái như anh em thân thuộc.
Đến năm 17 tuổi, thân phụ của ông Nữu qua đời, ông cùng mẹ sống cô đơn. Đến năm 21 tuổi thân mẫu qua đời. Ông vốn chí hiếu trong khoảng 3 năm để tang, làm một ngôi nhà tranh bên cạnh mộ, khóc suốt cả ngày. Bấy giờ tại trang Du Lễ, có ông họ Nguyễn tên là Bình, vốn là người hào hoa phong nhã, thấy ông Nữu hiếu kính như thế, mới gả con gái trưởng của mình tên à Tấn, đưa ông về giáo dưỡng, xem ông như con đẻ. Trải trong bốn năm, gia sản ngày càng sung túc.
Đương thời tại đất Đường Lâm có người họ Phùng, tên Hưng (tức Bố Cái Đại Vương) cũng Hãi và Dĩnh là 3 anh em mưu cứ ở Đường Lâm, dựng cờ khởi nghĩa, tập hợp mấy vạn quân chúng, tự xưng là Đô quân, rất giỏi về võ nghệ. Có người thấy tài của ông Nữu liền báo gấp cho Phùng Hưng. Phùng Hưng bèn cùng sáu, bẩy đệ tử về trang Du Lễ tìm gặp Trương Nữu. Hai bên kết giao làm chỗ thâm tình.
Khoảng năm Đình Mùi, niên hiệu Đại Lịch (767) nhà Đường, Châu Thành bị nước Côn Luân và nước Chà Bà vào cướp. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu viện Vũ Định Uý, Cao Chính Bình đem quân đến đánh, phá được Côn Luân và Chà Bà. Phùng Hưng mới chiếm cứ ở Đường Lâm, quân chúng đều quy tụ theo ông, đông đến mấy vạn người, xưng vương ở mạn Đông, mang quân đánh phủ đô hộ, rồi phong tước ấp cho các em. Phong cho em Hãi giữ chức Đô Bảo, Dĩnh giữ chức Đô Tổng, còn Trương Nữu giữ chức Đại Tướng Quân, mỗi người trấn giữ một nơi hiểm yếu, tự tích chứa binh lương. Cao Chính Bình lo lắng, đốc xuất quân đi đánh ba ông. Phùng Hưng sai Đại tướng quân Trương Nữu mang quân chống cự, cuối cùng không phân thắng bại, Cao Chính Bình nhiều lần rút quân về nước. Phùng Hưng thấy Trương Nữu có tài nổi tiếng ở đời, nên rất tôn kính, nhiều lần ban thưởng cấp bậc. Khi trở về trang Du Lễ ông tuyển chọn 50 người khoẻ mạnh trong trang sưng làm tôi tớ. Ngày hôm đó ông dong cờ trở về triều phụ tá cho Phùng Hưng.
Cụ kể lại: Khoảng năm Tân Mùi, niên hiệu Trịnh Nguyên (791) nhà Đường, Cao Chính Bình thi hành chính sự nghiệt ác, thu nặng thuế khoá, khiến trăm họ lo sầu, lòng dân oán hận. Phùng Hưng mới họp các tướng bàn kế sách đánh Cao Chính Bình. Phong cho Trương Nữu làm Hữu Lục Tướng Quân, dẫn 1000 quân tiến thẳng đến địa giới phía Tô Đông để chặn đường rút của quân nhà Đường. Phùng Hưng thống lĩnh 10 vạn quân, sai bọn Đoàn Mỹ, gồm 20 tướng cho quân tiến thẳng đến trị sở châu của địch.
Cao Chính Bình mang tướng sĩ, thuộc hạ gồm hơn 4 vạn tên chống cự, 2 bên đại chiến trong 7 ngày liền, trống nổi liên hồi, quân nhà Đường chết nhiều vô kể xiết. Bấy giờ Trương Nữu tung hoành, xung đột trận tiền đánh nhau với Cao Chính Bình, đâm vào tay phải, tay trái của hắn. Cao Chính Bình uất hận thành bệnh, phát bối mà chết. Từ đó trong nước thanh bình, muôn dân yên nghiệp. Phùng Hưng phong Trương Nữu làm Đại Tư Mã Uy Trung Công, chuẩn cho trang Du Lễ phong thuần tục hậu, xứng đáng sánh với phong tục thời thượng cổ, đều được công đức của ông mà đều được như thế.
Chẳng bao lâu Phùng Hưng bị bệnh rồi mất. Con của Phùng Hưng là An nối dõi, tôn Phùng Hưng là Bố Cái Vương. Lúc ấy Phùng An còn trẻ nên tôn Trương Nữu làm Thái Vương, lấy Huân Tướng trao cho ông thao cách thức của tiên vương.
Năm đó vào mùa Hạ, tháng 5 Nhà Đường lấy Triệu Xương làm chức đô hộ. Đến năm Mậu Tý thế quân của Triệu Xương đang rất mạnh, Phùng An sợ hãi cho quân đầu hàng. Triệu Xương cho Phùng An giữ chức Tư Mã để được lòng dân chúng. Thế là thống quốc lại quy về nhà Đường. Duy có Trương Nữu cùng Đỗ Anh Luân và Đỗ Anh Hàn không chịu theo mệnh Triệu Xương, liền chiêu binh mãi mã, giữ cõi cự chiến. Đỗ Anh Luân, Đỗ Anh Hàn bị Triệu Xương giết. Trương Nữu thấy thời cuộc như vậy mới về trang Du Lễ đắp thành, ngăn luỹ duy trì lực lượng được vài tháng. Triêụ Xương nhiều lần cho quân giáp công nhưng không thắng. Một hôm quân của ông bị vỡ trận, ông đơn thân độc mã, thân bị bao vây, quyết tâm vừa chạy vừa đánh, ngựa phóng như bay. Khi đến đồn binh ở núi Vũ Ninh, ông tư lự hồi lâu, bỗng nhiên phát thành bạo bệnh, chỉ trong khoảnh khắc rồi mất ( hôm đó là ngày mồng 10 tháng 2). Các gia thần tướng sĩ an táng thành mộ tại hướng Nam núi Vũ Ninh. Toàn dân Du Lễ cảm kích công đức của ông, lập miếu tại phía trước của ấp, đề thần hiệu là Thái Vương Trương Nữu Đại Tướng Quân tôn thần để phụng thờ.
Khoảng niên hiệu Hưng Long (1293- 1314) nhà Trần, tôn thần được phong bốn cặp mỹ tự là Khổng Vũ Hữu Lục Thiên Phu Bất Đương.
Ngày 25 tháng 01 năm 1994, Miếu Đoài được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.



