Khác

Hào Khí Hộ Quốc Giữa Thời Hoa Lửa

Hải Phòng13/01/2026Đào Thu Hà (Đoàn xã Nghi Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hào Khí Hộ Quốc Giữa Thời Hoa Lửa

Thực hiện đề án của Trung ương Đoàn về tiếp tục triển khai câu chuyện Thời hoa lủa, chúng tôi BCH Đoàn xã đã tìm đến ông Nguyễn Sỹ Hồi – sinh năm 1957 – Quê ở Thôn 4, xã Nghi Dương, thành phố Hải Phòng. Chúng tôi được nghe ông kể về khu Di tích lịch sử Đình Tú đôi thuộc thôn 4, xã Nghi Dương Thành Phố Hải Phòng.

Đình Tú Đôi thờ 2 vị Thành hoàng: Nam Hải Đại Vương và Ả Vương triều Trần. Nhân vật thứ nhất, căn cứ vào thần tích, sắc phong được lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội Hà Nội có ghi lại: Vào thời Nguyễn đình làng Tú Đôi thờ vị Nam Hải Đại Vương, âm phù giúp vua Lê Đại Hành đánh Tống Bình Chiêm. Quân giặc bị đại bại, vua sai sứ ban sắc phong mỹ tự cho bách thần, ban cho vị thần là Bản cảnh Thành Hoàng Nam Hải Quản tế đại vương. Tặng phong mỹ tự là Linh quan Hộ Quốc khang dân, Phù Vạn, Dương Vũ, Dục Thánh, bản cảnh Hùng Uy, đại vương Thượng Đẳng Thần, các thời đều gia phong mỹ tự, cho phép trang Tú Đôi được phụng thờ. Nhân vật lịch sử thứ hai là Thái trưởng công chúa tên Thiên Thuỵ - con gái trưởng vua Trần Thánh Tông, chị gái vua Nhân Tông, có tên huý Trần Quỳnh Nga. Công chúa có dung nhan tuyệt thế, đủ tài cầm kỳ, thi họa được vua phong Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ. Đến tuổi cập kê, Vua cha gả cho Hưng Võ Vương Nghiễm, con trai Hưng Đại Vương. Nhưng từ nhỏ, công chúa đã yêu cảnh thiên nhiên, dốc chí tu hành, nguyện tròn quả phúc, nên xin với gia đình cho được toại ý. Từ đấy, công chúa thường đi tu ngoạn nhiều danh lam, thắng tích. Ngày 12/3 năm Quý Thân, công chúa làm lễ Khánh hạ, xưng đạo hiệu là Thiên Thánh, mở rộng việc khai khẩn đất hoang, cấp phát ruộng vườn cho nhiều nguồn canh tác. Từ đấy, dân vùng Nghi Dương no đủ. Tháng giêng năm Ất Dậu (1285) tướng giặc là Ô Mã Nhi đem quân xâm phạm các xứ Vân Đồn, Vạn Kiếp rồi vào Nghệ An. Thượng Hoàng có ý định gả Công Chúa cho tướng giặc để làm kế hoãn binh. Nhưng Công Chúa van xin cha cho được tiếp tục ở chùa thờ phật. Từ đó, công chúa hàng ngày tụng kinh niệm phật thiết lập đàn tràng, bố thí cho kẻ nghèo khó. Từ đó, người đời thường gọi là bà Chúa mõ. Ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân, thượng Hoàng Nhân Tông và công chúa cùng hoá - Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư, lập tháp an táng.

Đình làng Tú Đôi được hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo ngay trên nền đất cũ. Bố cục mặt bằng của ngôi đình mới tu tạo tuy có sự kết hợp hài hoà giữa nguyên liệu truyền thống với công nghệ tiên tiến như gỗ, đá, xi măng, sắt, thép... song vẫn tạo nên một công trình văn hoá tâm linh toạ lạc giữa trung tâm làng xã. Đình có cấu trúc kiểu chữ đinh, gồm 5 gian bái đường và 2 gian chuôi vồ. Ngoài mái lợp ngói, rui hoành dùng loại gỗ tứ thiết. Trang trí bò nóc mái được phục chế khá công phu, cầu kỳ, gồm các khối hình đăng đối hài hoà như vẫn thường thấy tại các ngôi đình. Toàn bộ kiến trúc toạ lạc trên một diện tích rộng, hướng ra đường giao thông dẫn tới trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Sân hội trước cửa đình được lát toàn bộ bằng gạch Tiên Hội. Phân cách giữa sân hội của ngôi đình là bộ đôi cột trụ hình khối chữ nhật. Nóc đình trang trí, đắp vẽ kiểu đèn lồng - phượng đỗ.

Đình làng thôn Tú Đôi còn lưu giữ được 8 đạo sắc phong thời Lê, thuộc các thời: Lê Vĩnh Thịnh thứ 9 (1714), Vĩnh Khánh năm thứ 2 (1721), Cảnh Hưng năm thứ 28 (1768), Cảnh Hưng năm thứ 44 (1788), Chiêu Thống nguyên niên, Quang Trung năm thứ 2 (1790), Cảnh Thịnh nguyên niên (1793) ... Sắc Trần Ả Nương Thiên Thính Quỳnh Trân. Ngoài ra, còn 6 bản sắc phong thuộc một số vua triều Nguyễn như Tự Đức năm thứ 10 và 13, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định phong cho Nam Hải Quảng Tề đại vương, được dân làng Tú Đôi phụng thờ. Cùng các di vật: 01 khám đặt vị tượng Thành hoàng, 01 nhang án tiền, cửa võng 1 bộ, hoành phi, câu đối cổ cùng một số đồ vật khác như lộc bình, ống hoa, bát hương men nội do nhân dân mới cúng tiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn