Khác

Hệ thống đường dây cáp tời quặng Bản Thi - chứng tích bóc lột sức lao động của công nhân mỏ kẽm Bản Thi trong thời kỳ thực dân Pháp khai thác tại đây từ năm 1909 đến năm 1941.

Trong thời kỳ khai thác mỏ kẽm Bản Thi, thực dân Pháp đã cho xây dựng một hệ thống vận chuyển quặng từ trên đỉnh núi Phja Khao xuống trung tâm xã Bản Thi bao gồm 2 dây cáp tời, hệ thống trụ, cột ròng rọc. Hệ thống này được gọi là “Hệ thống đường dây cáp tời quặng”. Hệ thống đường dây cáp tời quặng do thực dân Pháp thiết kế nằm trên sườn núi cao, bộ phận đầu tời nằm ở khu đất bằng trên đỉnh núi rộng khoảng 500m2.

Thái Nguyên08/06/2026Xã Yên Thịnh (Xã Yên Thịnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong thời kỳ khai thác mỏ kẽm Bản Thi, thực dân Pháp đã cho xây dựng một hệ thống vận chuyển quặng từ trên đỉnh núi Phja Khao xuống trung tâm xã Bản Thi bao gồm 2 dây cáp tời, hệ thống trụ, cột ròng rọc. Hệ thống này được gọi là “Hệ thống đường dây cáp tời quặng”. Hệ thống đường dây cáp tời quặng do thực dân Pháp thiết kế nằm trên sườn núi cao, bộ phận đầu tời nằm ở khu đất bằng trên đỉnh núi rộng khoảng 500m2. Hai bờ kè đá được xây dựng rất kiên cố, cao 10m, dài 7m, ở giữa là hệ thống các cột sắt chống đỡ cho hai đường dây đi Hai đường cáp song song cách nhau 1,5m, kéo dài khoảng 4 km tới trung tâm xã Bản Thi. Từ đầu tời đến cuối tời đường dây có 10 cột sắt to để cho dây cáp bắc qua. Hiện nay các cột và hệ thống đầu tời vẫn còn, hệ thống dây cáp đã bị cắt và mất đi tương đối nhiều nhất là đoạn phía gần trung tâm xã Bản Thi, chỉ còn phần dây cáp phía đầu trên sườn núi là còn tương đối nguyên vẹn.

Năm 1909, mỏ Chợ Điền – Bản Thi do Công ty Bắc Kỳ hùn vốn sau thuộc về Công ty luyện kim Đông Dương có số vốn 16 triệu Frăng. Khu mỏ có tới 1000 công nhân, 80 thư ký phục vụ và trực tiếp khai thác khoáng sản theo chế độ hà khắc. Theo các nhân chứng lịch sử kể lại, công nhân mỏ khai thác quặng ở trên núi và tập kết thành bãi rộng ở đầu tời, cứ một tuần thì hệ thống đường dây tời quặng lại hoạt động theo cách đổ quặng vào một goòng, hai goòng kéo nhau, cái lên cái xuống. Thông qua hệ thống dây cáp này, thực dân Pháp đã chuyển quặng từ đỉnh Phja Khao xuống trung tâm xã Bản Thi và theo đường goòng vận chuyển xuống Đầm Hồng sau đó đi Quảng Ninh và về chính quốc. Trong vòng 27 năm từ 1914 đến 1941 thực dân Pháp đã mang về nước 543.716 tấn quặng kẽm do công nhân Việt Nam khai thác. Tuy nhiên sự đối xử giữa chủ và thợ cũng không vì thế mà được cải thiện. Mỗi tháng chủ mỏ được hưởng 600 đồng còn cu ly (thợ mỏ) thì chỉ được nhận 9 đến 12 đồng. Dã man hơn, thực dân Pháp còn bóc lột cả sức lao động của trẻ em và phụ nữ, mặc dù phải lao động cả ngày quần quật nhưng họ chỉ được nhận từ 8 đến 12 xu. Chúng còn đặt ra vô số tiệc rượu, sòng bạc để vơ vét đến đồng xu cuối cùng của những người thợ mỏ. Nhiều phu mỏ ốm yếu hoặc không chấp hành theo chúng, chúng sẵn sàng ném xuống vực sâu Phja Khao để loại bỏ. Để che đậy sự độc ác dã man của chúng, những chủ mỏ đã ra sức ngăn cấm công nhân liên hệ, trao đổi, mua bán với nông dân vì sợ hai tầng lớp cùng khổ trong xã hội sẽ liên kết với nhau vùng lên chống lại chúng.

Di tích lịch sử này là minh chứng về tội ác dã man của thực dân Pháp đã đè nặng lên đầu nhân dân Việt Nam cả một thời gian dài khi đất nước chưa giành được tự do – độc lập. Năm 2002, Di tích lịch sử “Hệ thống đường dây cáp tời quặng” đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh, đây là nơi phục vụ cho việc thăm quan, nghiên cứu lịch sử của nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn