Hồ Biểu Chánh
Giữa những biến động dữ dội của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi đất nước còn trong ách thuộc địa và những giá trị truyền thống bị lung lay, có một con người đã lặng lẽ gìn giữ đạo lý dân tộc bằng chính ngòi bút của mình. Đó là Hồ Biểu Chánh – một trong những người đặt nền móng cho tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam. Ông tên thật là Hồ Văn Trung, sinh năm 1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gia Định. Xuất thân trong gia đình nông dân, ông được học chữ Nho rồi chuyển sang học Quốc ngữ. Năm 1905, ông đậu
Giữa những biến động dữ dội của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi đất nước còn trong ách thuộc địa và những giá trị truyền thống bị lung lay, có một con người đã lặng lẽ gìn giữ đạo lý dân tộc bằng chính ngòi bút của mình.
Đó là Hồ Biểu Chánh – một trong những người đặt nền móng cho tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam. Ông tên thật là Hồ Văn Trung, sinh năm 1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gia Định. Xuất thân trong gia đình nông dân, ông được học chữ Nho rồi chuyển sang học Quốc ngữ. Năm 1905, ông đậu bằng Thành Chung và bước vào con đường làm việc trong bộ máy hành chính Nam Kỳ. Dù giữ chức vụ Đốc phủ sứ, ông nổi tiếng thanh liêm, sống có trách nhiệm và thương dân. Sau khi về hưu, ông dành trọn thời gian cho văn chương cho đến khi qua đời năm 1958. Đi nhiều, chứng kiến nhiều, Hồ Biểu Chánh thấu hiểu nỗi khổ của người dân nghèo và sự tha hóa của những kẻ chạy theo danh lợi. Ông viết hơn một trăm tác phẩm, trong đó có những tiểu thuyết tiêu biểu như Ngọn cỏ gió đùa, Con nhà nghèo và đặc biệt là Thế thái nhân tình. Văn ông mộc mạc, gần gũi như lời kể đời thường nhưng lại chứa đựng triết lý sâu sắc về nhân sinh. Trong tác phẩm, nhân vật đã nói những lời đầy suy ngẫm: “Đáng sống chứ ông Quỳnh. Mình còn hơi thở là để mình thấy những điều mát mẻ của trời đất… Tuy ông không còn được tự do nơi đôi chân của mình nhưng ông còn tâm hồn đó, có ai ngăn cản ông phiêu diêu đâu?” Qua đó, Hồ Biểu Chánh khẳng định giá trị con người nằm ở tâm hồn chứ không phải ở hoàn cảnh. Đôi chân có thể mất, tự do bên ngoài có thể bị giới hạn, nhưng nếu còn giữ được một tâm hồn cao thượng và yêu đời thì con người vẫn còn tự do theo nghĩa sâu xa hơn. Ngược lại, nếu mang một tâm tham lam, ích kỷ, hận thù thì dù có đủ đầy cũng chỉ tự chuốc lấy hiểm họa. Ông còn nhắc đến tính vô thường của thế gian. Mọi thứ đều biến đổi, không có gì vĩnh viễn. Cõi đời chỉ như quán trọ ven đường, vậy mà con người vì danh vọng, tiền tài mà giẫm đạp lên nhau, để rồi vướng vào nhân quả không dứt. Tư tưởng ấy mang đậm dấu ấn giáo lý của Gautama Buddha: đời là bể khổ, khổ vì vô minh, vì không nhận ra thực tướng của vạn vật mà cứ chạy theo cái hư ảo để tạo nghiệp. Tuy nhìn thẳng vào khổ đau, Hồ Biểu Chánh không hề bi quan. Ông tin rằng ai cũng có cơ hội quay đầu, ai cũng có “tự tánh thanh tịnh”. Một giây, một khắc tu tâm còn đáng giá hơn cả đời lầm lỗi. Chính niềm tin ấy làm cho văn ông ấm áp và nhân hậu. Ông không chỉ phản ánh xã hội mà còn hướng con người đến sự giác ngộ và lòng bao dung. So với nhiều nhà văn cùng thời, Hồ Biểu Chánh chọn cách dùng đạo lý để cảm hóa. Ông tiếp thu kết cấu tiểu thuyết phương Tây nhưng vẫn giữ trọn tâm tính Á Đông. Nhân vật của ông có thể lầm lỗi nhưng luôn có cơ hội sửa sai. Điều đó thể hiện niềm tin sâu sắc của ông vào bản chất thiện lương của con người.
Đối với em, đọc Hồ Biểu Chánh là học cách sống giữa đời vô thường. Trong xã hội hiện đại, con người dễ chạy theo vật chất mà quên mất giá trị tinh thần. Văn của ông nhắc em rằng đời chỉ là cõi tạm, đừng vì tham vọng mà đánh mất lương tâm. Khi hiểu được vô thường, con người sẽ biết trân trọng hiện tại và sống tử tế hơn. Giữa “thời hoa lửa” đầy biến động, Hồ Biểu Chánh đã thắp lên một ngọn đèn đạo lý bền bỉ. Ngọn đèn ấy không ồn ào nhưng đủ soi sáng lòng người. Có lẽ vì thế mà hơn một thế kỷ trôi qua, văn chương của ông vẫn còn nguyên sức lay động. Giữa dòng đời nhiều đổi thay, ánh sáng ấy vẫn nhắc chúng ta sống chậm lại, sống bao dung và biết quay về với chính mình.


