Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

HOÀNG VĂN THỤ – KHÍ TIẾT GANG THÉP VÀ BẢN TÌNH CA BẤT TỬ GỬI LẠI MAI SAU

Trong những nếp nhà sàn vương khói bếp ở vùng cao Lạng Sơn, hay trong những câu chuyện ôn lại truyền thống tại phố cổ Hà Thành, cái tên Hoàng Văn Thụ bao đời nay vẫn hiện lên như một huyền thoại về lòng trung kiên và khí phách hiên ngang. Qua lời kể của thế hệ đi trước – những bậc cao niên đã đi qua khói lửa chiến tranh hay những người được nghe thân nhân kể lại – hình ảnh đồng chí Hoàng Văn Thụ không chỉ là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, mà là một "người anh lớn" của cách mạng, một tâm hồn

Thái Nguyên06/03/2026Tạ Nguyễn Đăng Khôi (Khoa Điện-Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp-ĐH Thái Nguyên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thế hệ đi trước thường bắt đầu câu chuyện về ông từ nguồn gốc người con của dân tộc Tày tại vùng đất Văn Uyên. Họ kể rằng, cái chất phóng khoáng của núi rừng Lạng Sơn đã nhào nặn nên một chàng thanh niên Hoàng Văn Thụ thông minh, quyết đoán nhưng cũng đầy tình cảm. Từ khi còn là một học sinh tại thị xã Lạng Sơn, ông đã mang trong mình ngọn lửa yêu nước nồng nàn. Lời kể của các cụ thường nhấn mạnh vào quãng thời gian ông hoạt động bí mật ở nước ngoài: đó là những năm tháng gian truân, có lúc phải đóng giả người bán thuốc cao, thậm chí phải đi xin ăn để duy trì hoạt động. Các bậc tiền bối nhắc nhở chúng tôi rằng: "Để có được cơ sở Đảng vững chắc trong nước, ông Thụ đã phải nếm mật nằm gai, đi bộ xuyên rừng, vượt biên giới không biết bao nhiêu lần". Sự kiên trì đó chính là bài học đầu tiên về đức tính chịu đựng gian khổ mà thế hệ cha anh muốn truyền dạy cho lớp trẻ.

Một trong những khía cạnh mà thế hệ đi trước hay nhắc đến với sự xúc động nghẹn ngào chính là bản lĩnh chính trị và "lòng son dạ sắt" của ông trước sự cám dỗ. Giai thoại về bài thơ "Đoạn tuyệt" luôn được kể lại như một bản hịch về khí tiết. Dù nguồn tin có khác nhau về việc ông trả lời cha ruột hay cha vợ, nhưng cốt lõi mà người già muốn nhấn mạnh là thái độ dứt khoát của ông đối với bả vinh hoa phú quý của kẻ thù. Giữa một bên là "nệm ấm chăn bông", "mề đay kim khánh" và một bên là "nằm chông nếm mật", "rền rĩ khóc non sông", ông đã chọn con đường chông gai nhất. Thế hệ đi trước dùng bài thơ này để răn dạy chúng tôi về đạo làm người: "Sống ở đời, danh dự và trách nhiệm với tổ quốc phải đặt lên trên hết, không thể vì tư lợi mà phản bội lại đồng bào". Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng từ bỏ gia đình quan lại (theo một số tài liệu) để đứng về phía nhân dân lao khổ đã tạc vào lòng hậu thế một biểu tượng của sự hy sinh vô điều kiện.

Khi kể về những ngày tháng ông bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò, giọng các cụ thường chùng xuống nhưng đầy sự khâm phục. Họ kể về một Hoàng Văn Thụ dù bị tra tấn hơn 20 trận dã man, từ đêm trắng đến rạng sáng, vẫn giữ vững khí tiết. Điều khiến chúng tôi xúc động nhất chính là tình đồng chí cao cả của ông trong chốn lao tù. Câu nói: "Các anh ăn đi để còn lấy sức chiến đấu, tôi bây giờ ăn vào cũng chỉ nuôi cây thôi" không chỉ là một lời nhường nhịn, mà là sự bình thản trước cái chết của một người đã thấu triệt lẽ sinh tử. Thế hệ đi trước muốn chúng tôi hiểu rằng, sức mạnh của người cộng sản không chỉ nằm ở lý luận, mà nằm ở sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn. Tình yêu sâu đậm nhưng dang dở giữa ông và bà Hoàng Ngân – người phụ nữ sau này vẫn luôn nhận mình là vợ ông – cũng được kể lại như một minh chứng cho sự hy sinh tình cảm cá nhân vì nghĩa lớn của cả một thế hệ vàng.

Khoảnh khắc bi tráng nhất trong lời kể của tiền nhân chính là hình ảnh ông bước ra pháp trường Tương Mai vào sáng sớm ngày 25/4/1944. Các cụ kể lại với niềm tự hào khôn xiết về tư thế "ung dung" của ông trước họng súng quân thù. Việc ông từ chối bịt mắt, từ chối rửa tội và dõng dạc khẳng định: "Nếu yêu nước, cứu nước là có tội thì những người Pháp hiện giờ đang đấu tranh chống phát xít Đức... đều là có tội cả" đã làm rung động ngay cả những viên giám thị thực dân. Lời tuyên bố đó không chỉ là sự phản kháng, mà là một đòn tấn công sắc bén vào sự phi nghĩa của kẻ xâm lược. Câu kết của viên giám thị: "Thật là một người cộng sản gang thép" chính là sự thừa nhận cao nhất đối với nhân cách của ông.

Thông qua lăng kính của người trẻ dưới sự dẫn dắt của thế hệ đi trước, Hoàng Văn Thụ hiện lên không chỉ là một "nhân chứng lịch sử", mà còn là một "nhà thơ cách mạng" với tâm hồn nhạy cảm. Những vần thơ tuyệt mệnh gửi bạn: "Việc nước xưa nay có bại thành / Miễn sao giữ trọn được thanh danh" đã trở thành kim chỉ nam cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam. Chúng tôi học được từ ông rằng: thành công không chỉ tính bằng thắng lợi tức thời, mà tính bằng việc ta đã sống và cống hiến như thế nào cho dân tộc.

Ngày nay, khi tên ông được đặt cho nhiều đường phố, trường học, và xã quê hương ông được đổi tên thành Hoàng Văn Thụ, thế hệ trẻ chúng tôi hiểu rằng đó không chỉ là sự tôn vinh. Mỗi khi nghe các cụ kể về ông, chúng tôi như thấy mình đang đứng trước một "ngọn núi lớn" của bản lĩnh và lòng nhân ái. Hoàng Văn Thụ đã ngã xuống ở tuổi 38 – cái tuổi đang chín muồi của tài năng và ý chí – nhưng tinh thần của ông vẫn mãi tươi xanh như dòng suối Khuổi Nậm, luôn nhắc nhở hậu thế về sức mạnh của một tâm hồn "ngọc nát còn hơn giữ ngói lành". Ông là minh chứng sống động rằng: dù cuộc đời có ngắn ngủi, nhưng nếu biết sống vì đại nghĩa, cái tên đó sẽ hóa thành bất tử trong lòng nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn