HỒI ỨC ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
Hôm nay, thanh âm của súng, bom đạn đã ngừng, cũng chẳng còn những tiếng khóc nghẹn lại cho những câu chuyện giữa chiến trường khốc liệt. Không khí của hoà bình đã có mặt ở khắp mọi miền Tổ quốc. Sau tất cả, con người đều trở lại cuộc sống cuộn tròn trong nhịp gấp gáp: người ta theo đuổi những giấc mơ, theo cơ hội, theo những chuyến xe không bao giờ dừng lại. Cũng chẳng mấy khi người ta nhắc đến những cuộc chiến đã qua đi, chiến tranh trở thành những dòng chữ trong sách giáo khoa, những bộ phim

HỒI ỨC ĐỊA ĐẠO CỦ CHI
Hôm nay, thanh âm của súng, bom đạn đã ngừng, cũng chẳng còn những tiếng khóc nghẹn lại cho những câu chuyện giữa chiến trường khốc liệt. Không khí của hoà bình đã có mặt ở khắp mọi miền Tổ quốc. Sau tất cả, con người đều trở lại cuộc sống cuộn tròn trong nhịp gấp gáp: người ta theo đuổi những giấc mơ, theo cơ hội, theo những chuyến xe không bao giờ dừng lại. Cũng chẳng mấy khi người ta nhắc đến những cuộc chiến đã qua đi, chiến tranh trở thành những dòng chữ trong sách giáo khoa, những bộ phim tài liệu phát lại vào dịp lễ quan trọng hay một câu chuyện vụn vặt được nhắc lên rồi lại rơi xuống trong những buổi cà phê cuối tuần. Những câu chuyện thời hoa lửa tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng đôi khi chỉ cần một tiếng gió thoảng cũng đủ đánh thức cả một miền ký ức. “Cỏ cây chết, đất đá trụi nhưng con người không lay chuyển/ Đường địa đạo xưa vẫn là căn cứ vững chắc của cụm tôi/ Còn Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ - Tia chớp nhiệt đới nay đã khuất rồi/ Mang theo uất hận vì những con đường địa đạo/ Ôi đáng quý, đáng yêu, đáng ghi vào lịch sử/ Những con đường địa đạo đất Củ Chi" Anh hùng Tư Cang đọc bài thơ về địa đạo Củ Chi.
Tiểu sử và con đường Cách mạng
Nguyễn Văn Tàu (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1928), biệt danh Tư Cang, là một Đại tá tình báo của Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên cụm trưởng cụm tình báo quân sự H63 hoạt động trong Chiến tranh Việt Nam mà Phạm Xuân Ẩn là điệp viên chính. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, trong phong trào Thanh niên tiền phong. Năm 2005, ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là một trong những cụm trưởng cụm tình báo tiêu biểu và đặc biệt xuất sắc.
Bộ óc sắt lạnh giữa nơi đầu sóng ngọn gió
Cụm H63 (tiền thân là mạng A18) do Tư Cang chỉ huy có nhiệm vụ thu thập tin quan trọng, bảo đảm liên lạc tình báo giữa nội thành Sài Gòn và chiến khu cách mạng. Ông điều hành mạng lưới giao liên, sử dụng địa đạo Củ Chi như cứ điểm ngầm: đội ngũ tình báo và liên lạc sống trong hầm bí mật, chịu bom đạn, khắc nghiệt nhưng vẫn giữ liên lạc thông suốt. Ông kể lại, thời kỳ hoạt động trong nội đô Sài Gòn là giai đoạn đầy hiểm nguy khi phải hóa thân vào nhiều vai diễn khác nhau để tạo vỏ bọc. Từ gia sư đến kế toán, mỗi “vai diễn” đều đòi hỏi sự nhanh nhạy, mưu trí và khả năng ứng biến linh hoạt. “Vào thành mà không có công việc cụ thể thì rất dễ bị lộ,” ông nói như đang tái hiện lại những ngày tháng căng thẳng mà ông và đồng đội đã trải qua. Trong những năm khốc liệt, ông đặt triết lý sống “Tôi kêu anh em, lúc nào cũng phải ghi nhớ 4 chữ: Coi như chết rồi! Có 4 chữ đó rồi thì tụi bay chẳng còn sợ gì nữa – tao cũng vậy!”. Bởi chỉ khi dám chết, người ta mới sống trọn trách nhiệm với Tổ quốc
Hồi ức về Địa đạo Củ Chi của Đại tá Tư Cang
“Nhờ hầm địa đạo, chúng tôi mới sống được. Địa đạo là nơi khổ nhất, nên khi nói 10 năm bám trụ địa đạo Củ Chi, người ta nể chúng tôi dữ lắm. Chúng tôi quyết không rời, chấp nhận hy sinh, chấp nhận vất vả để đường dây liên lạc không bao giờ ngưng trệ”, nguyên Cụm trưởng cụm H.63 nói. Chiến tranh, theo lời của Đại tá Tư Cang, là những ngày “sống cùng bom đạn, khổ lắm, nhưng riết rồi cũng quen nên êm được ngày nào, hay ngày đấy”. “Có những bữa ăn trong lòng đất, chúng tôi nhìn đĩa lươn chiên chấm nước mắm tỏi ớt, khoái chí lắm”. Ban ngày, bộ binh, xe tăng, trực thăng địch càn quét. Ban đêm, địch thả bom theo tọa độ. Muốn di chuyển từ hầm này sang hầm khác phải nắm quy luật đạn rơi, bao nhiêu phút thì giặc lên đạn, nghe tiếng nổ thì phải bật dậy chạy nhanh đến miệng hầm. Những hôm địch bắn phá dữ dội, đơn vị trú trong địa đạo, hết gạo thì ăn măng tre luộc, uống nước cầm hơi. Ban đêm, chiến sĩ giao thông đột nhập vào ấp chiến lược, nhận tiếp tế lương thực, mua pin để duy trì tín hiệu máy thu phát, giữ đường dây liên lạc. Đại tá miêu tả cuộc sống “không khác gì loài chim ăn đêm”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
“Mỗi lần phân công anh em vào ấp chiến lược công tác, tôi cũng sắp xếp 1-2 chiến sĩ ở lại cho có bạn. Thi thoảng tôi canh gác căn cứ một mình, không dám ngủ say, tai căng ra nghe ngóng âm thanh máy bay, tàu tuần tra của địch, đến đêm thì lên nắp hầm đợi anh em về. Nghe tiếng bước chân, thấy đồng đội trở về lành lặn, là tôi thở phào”. Mùa mưa, nước mưa theo rễ tầm vông chảy xuống hầm, tạo thành lớp bùn nhão nhoẹt. Các chiến sĩ trải tấm ni lông ra ngủ, nói “nệm bằng bùn nhão êm nhưng mà lạnh quá, anh Tư ơi”. “Họ là thanh niên, dễ ăn dễ ngủ, còn tôi thường trằn trọc mãi mới vào giấc. Có lần, Sáu Ẩn, cán bộ trung đội tôi, đi vào ấp chiến lược tải gạo, thấy chuồng heo trát xi măng, được thắp điện sưởi ấm, khi về liền nói vui rằng chỗ ngủ anh em mình còn thua chỗ ngủ chuồng heo nhà giàu”. Dưới hầm nhiều muỗi nên từ đầu hôm, Đại tá Tư Cang cùng anh em hun khói đuổi muỗi. Nước mắt nước mũi thi nhau chảy xuống, họ cắn răng chịu vì còn hơn là để muỗi đốt không ngủ được.
Những lần thoát chết trong gang tấc
Súyt bị ngộp thở vì thiếu dưỡng khí nơi lòng đất. Đó là đầu năm 1967, xe công binh hạng nặng của địch chạy qua chạy lại trên đoạn địa đạo ở Phú Hòa Đông, ủi sập một đoạn hầm nơi đơn vị trú ẩn. Bóng tối bao trùm, các chiến sĩ ngồi như pho tượng. Từng giờ trôi qua, hơi thở họ trở nên nặng nề, cố di chuyển về gần lỗ thông hơi. Vừa hít chút ít không khí ít ỏi, họ vừa hướng mắt về chỉ huy, chờ mệnh lệnh. “Lúc đó, tôi không mơ ước cao xa về vầng trời lộng gió, chỉ mong có lỗ thông hơi bằng quả trứng thôi cũng đủ”, ông Tư Cang nhớ lại. Có người chịu không nổi, mấy lần định lao lên nắp hầm chiến đấu, thà chết ở trên mặt đất. Tuy nhiên, ông Tư Cang ngăn cản, không phải vì không dám đối mặt với địch mà vì ráng chịu đựng để bảo vệ bí mật về cụm tình báo.”Tao quê ở Bà Rịa – Vũng Tàu, chết tại đây thì không sao. Còn tụi bây ra mặt đấu với giặc, chết bị chúng kéo xác về bêu ở xóm làng, cha mẹ, vợ con thấy sao chịu được?”, ông Tư Cang nói với mọi người trong giây phút cân não.
“Lần khác, khoảng năm 1969 hoặc 1970, tôi bị rượt đuổi, suýt bị địch bắt sống”. Hôm đó, ông về đến căn cứ thì phát hiện nơi trú ẩn bị lộ, 4 chiếc xe tăng địch đổ bộ, anh em mỗi người một ngả chạy thoát thân. Ông Tư Cang vừa chạy, vừa né những luồng đạn. Chúng không bắn đạn thật mà bắn đạn đinh, mục đích bắt sống ông. “Chiến sĩ Đạo chạy trước tôi, chạy không đúng động tác quân sự, tôi nhắc phải chạy khom lưng lại. Chúng tôi chạy nước rút một đoạn dài. May mắn có một chiến sĩ giở nắp hầm vẫy tôi lại, vừa xuống được địa đạo thì trực thăng quét qua. Tôi thốt lên: Trời ơi, sống rồi!”, ông Tư Cang kể.
Hóa chất, bom xăng thiêu rụi mọi thứ, chỉ còn lưa thưa rặng tầm vông. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi lần bom đạn rải xuống, đất nát vụn, lá tầm vông rụng nhưng vài hôm sau, lớp lá non xanh lại phủ kín trở lại. Cây tầm vông có sức sống kỳ diệu, như dân quân Củ Chi – những người đã dựa vào hàng tầm vông đó để sống, chiến đấu. Chiến công được làm nên từ thầm lặng “Khi đã lựa chọn lý tưởng thì phải dấn thân và chấp nhận hy sinh. Sự thành công tới mức hoàn hảo của H.63 ở chỗ đó, không ai phản bội trong bất cứ hoàn cảnh nào”. Quân số toàn cụm có 45 người, trong quá trình hoạt động 27 người hy sinh, 13 người bị thương, ngay cả ông Tư Cang cũng là thương binh hạng 2. Tỷ lệ thương vong cao, nhưng đổi lại, những điệp viên nòng cốt như Phạm Xuân Ẩn và đường dây liên lạc được an toàn cho đến ngày thống nhất đất nước.
Khép lại những kỷ niệm bi tráng, Đại tá Tư Cang thuật lại đoạn kết trong bài Tấu địa đạo mà trung đội trưởng Hồ Minh Đạo của H.63 biểu diễn trong buổi đón xuân 1971: “Quân Mỹ đánh vào chúng tôi, B52, B57, tàu thủy, bom, chất độc, hơi cay, cỏ cây chết, đất đá trụi nhưng con người không lay chuyển… Ôi đáng quý, đáng yêu, đáng ghi vào lịch sử, những con đường địa đạo quê hương”.
Nếu chiến sĩ mặt trận cầm súng đối diện kẻ thù, thì chiến sĩ tình báo đối mặt với cái chết trong từng hơi thở. Tư Cang và đồng đội sống những tháng ngày mà chỉ cần một ánh nhìn nghi ngờ, một câu hỏi vô tình, một thay đổi nhỏ trong thói quen… cũng có thể khiến cả mạng lưới sụp đổ. Những chiến công không có tiếng reo hò, không có ánh hào quang, cũng chẳng mang tên những người tạo nên nó. Đó là chiến công của những con người đã chọn đứng trong bóng tối, lặng lẽ đối mặt với hiểm nguy, âm thầm chống lại cái chết từng ngày mà không một lời than thở. Họ không cần ai biết, chỉ cần nhiệm vụ không gián đoạn; họ không cần được tôn vinh, chỉ cần Tổ quốc bình yên.
Bài học cho những người trẻ hôm nay
Bản lĩnh và dũng cảm trước thử thách: Tinh thần dám đối mặt với khó khăn, thử thách trong học tập, công việc và cuộc sống mà không bỏ cuộc.
Trí tuệ và sự nhạy bén: Rèn luyện tư duy phản biện, sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, để thích nghi trong thời đại thay đổi nhanh.
Lòng trung thành và trách nhiệm: Trung thực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, biết đóng góp sức mình cho cộng đồng.
Hy sinh vì mục tiêu cao cả: Sống có mục đích, biết ưu tiên giá trị tinh thần và đạo đức hơn vật chất, danh lợi.
Rèn luyện ý chí và kiên trì: Kiên trì theo đuổi ước mơ, không bị nản lòng trước thất bại.
Nhìn lại câu chuyện thời hoa lửa của nhân vật Tư Cang, ta thấy tuổi trẻ không chỉ là sức sống rực rỡ mà còn là dũng khí, lý tưởng và lòng yêu nước. Giờ đây ở tuổi 97, ông vẫn là minh chứng sống cho những giá trị ấy, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay rằng mỗi hành động nhỏ nhưng kiên định, mỗi quyết tâm vượt khó đều góp phần làm rạng rỡ Tổ quốc. Hãy trân trọng và gìn giữ hoà bình hôm nay, hoà bình đẹp lắm! Vì nó mà biết bao thế hệ đã nằm xuống. Lịch sử mà bỏ quên thì chúng ta sẽ dùng máu để học lại./.


