Cựu chiến binh

HỒI ỨC MÀU ÁO LÍNH

Người lính Trường Sơn Nguyễn Chí Khiêu - người con quê hương Hà Nam, thành phố Hải Phòng mang trong mình một tuổi trẻ nồng nhiệt, cháy bỏng lý tưởng cách mạng và niềm kiêu hãnh đứng giữa bom đạn với niềm tin không gì khuất phục.

Hải Phòng01/12/2025Đỗ Thị Đào (Đoàn xã Hà Nam)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
HỒI ỨC MÀU ÁO LÍNH

Có những trang lịch sử đã lùi xa, nhưng mỗi khi nhắc lại, lòng ta vẫn bồi hồi như thể tiếng bom đạn ngày nào còn vang vọng đâu đây. Đó là thời hoa lửa - thời mà tuổi trẻ Việt Nam rực cháy trong khát vọng độc lập, thời mà cả dân tộc kiêu hãnh đứng giữa bom đạn với niềm tin không gì khuất phục. Trong những ngày tháng khốc liệt ấy, những người lính trẻ đã khoác lên vai màu xanh áo lính, đi qua mưa bom, bão đạn, viết nên câu chuyện của tuổi đôi mươi đẹp như huyền thoại. Câu chuyện thời hoa lửa không chỉ thuộc về quá khứ, mà là ngọn lửa thắp sáng trái tim hôm nay, nhắc chúng ta biết trân trọng hòa bình, biết biết ơn những người đã nằm lại và những người còn sống để kể lại.

Trong muôn vàn người lính năm xưa, người lính Trường Sơn Nguyễn Chí Khiêu - cũng mang trong mình một tuổi trẻ cháy bỏng như thế. Bác sinh năm 1946 tại thôn Lang Can 2, xã Thanh Lang (nay là xã Hà Nam, thành phố Hải Phòng), trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, nơi có ba anh em trai đều khoác áo lính cụ Hồ. Từ nhỏ, bác đã lớn lên cùng những câu chuyện về quê hương bất khuất, về những người con ngã xuống giữ đất, giữ làng, để rồi khi đất nước cần, người thanh niên ấy không ngần ngại dâng hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước.

Chúng tôi gặp bác vào một buổi tối trở gió, khi ánh ánh điện ấm hắt lên mái tóc bạc phơ của người cựu chiến binh gần 80 tuổi. Ánh mắt bác hiền hậu nhưng sâu thẳm, như giấu trong đó cả một bầu trời ký ức. Khi nghe bác kể, tôi có cảm giác như mình đang ngồi giữa núi rừng Trường Sơn, nghe tiếng máy bay địch sát trên đầu, nghe bom nổ đục nát mặt đất, nghe nhịp tim những người lính trẻ đập cùng nhịp với Tổ quốc.

Năm 1970, khi đang công tác tại Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng, đơn vị được giao 20 chỉ tiêu nhập ngũ nhưng mới có 19 người. Giữa lúc con trai đầu lòng mới tròn một tuổi, gia đình cần một trụ cột để chống đỡ, bác - với lòng yêu nước mãnh liệt - đã âm thầm viết đơn tình nguyện. Bác kể: “Lúc ký đơn, lòng bác run run, không phải vì sợ, mà vì thương vợ, thương mẹ. Nhưng đất nước đang gọi, mình mà không đi thì ai đi?”

Bác giấu gia đình. Lá đơn ấy chính là tấm vé đưa bác bước vào một hành trình mà mỗi bước chân là một thử thách của sinh tử. Trong suốt những năm ở chiến trường, bác đi qua Campuchia, Nam Lào rồi Đà Nẵng - những nơi được xem là "điểm nóng" của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng khốc liệt nhất chính là chiến trường Bắc Sòong - Nam Lào những năm 1971 - 1973. Khi nhắc đến đây, giọng bác bỗng chùng xuống, đôi mắt ánh lên một nỗi buồn khó tả - nỗi buồn của người sống trở về khi quá nhiều đồng đội đã nằm lại.

Trong một trận đánh khốc liệt, đại đội 120 đồng chí của bác cầm súng xông lên, nhưng chỉ còn 8 người trở về. Không có bút mực nào ghi hết được cảnh máu và nước mắt ấy. Những thi thể đồng đội nằm lại trên mảnh đất lạ, mỗi người ôm trong mình một ước mơ còn dang dở. Không những vậy, bác kể: “Có đêm ngủ dưới rừng, mở mắt ra đã thấy đồng đội bên cạnh không còn thở. Không phải vì bom, vì đạn, mà vì kiệt sức, vì sốt rét rừng… Chúng tôi băng bó cho nhau bằng những thứ còn sót lại, có khi chỉ là manh áo rách. Sống sót được đến hôm nay thực sự là điều may mắn.” Có những buổi chiều, bác ngồi một mình nhìn về phía chân trời, lòng thầm hỏi: “Vì sao mình sống mà đồng đội không sống?” Câu hỏi ấy đi theo bác cả đời, như một phần ký ức không bao giờ có thể xóa nhòa.

Bác kể rằng trong chiến tranh, sinh mạng mong manh lắm. Nhưng điều níu người lính đứng vững không chỉ là nhiệm vụ, mà là nỗi nhớ quê hương, nhớ người vợ gửi lòng tin nơi hậu phương, nhớ tiếng ru con thơ còn chưa thuộc hết lời. Sáu năm ở chiến trường, bác chưa một lần được về. Mỗi cánh thư gửi đi là một hy vọng mong manh, vì có thể thất lạc bất cứ lúc nào. Thế nhưng cũng chính những lá thư ấy đã trở thành sợi dây kết nối người lính với cuộc sống, là động lực để họ vượt qua bệnh tật, đói rét và cả sự cận kề cái chết.

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 bác được trở về. Ngày bác bước qua ngưỡng cửa nhà, con trai bác đã lên sáu, đứng nép sau lưng mẹ nhìn cha - một người đàn ông gầy gò, rám nắng nhưng ánh mắt đầy yêu thương. Bác nói, đó là khoảnh khắc hạnh phúc nhất cuộc đời.

Sau giải phóng, bác tiếp tục phục vụ quân đội đến năm 1981 rồi trở về công tác tại đơn vị cũ cho đến khi nghỉ hưu năm 2003, mang quân hàm Trung úy. Với những cống hiến của mình, bác được trao nhiều phần thưởng cao quý. Nhưng với bác, điều đáng giá nhất chính là được sống, được nhìn thấy hòa bình, được chứng kiến đất nước lớn lên từ những tàn tro của chiến tranh.

Ngồi trước chúng tôi hôm nay là một người lính đã đi qua gần 80 mùa xuân, mái đầu điểm bạc, lưng hơi còng nhưng ánh mắt vẫn sáng rực niềm tin. Tác phong của người lính cụ Hồ vẫn in đậm trong từng cử chỉ, lời nói. Bác bảo: “Chúng tôi đã sống trọn tuổi trẻ cho đất nước. Giờ chỉ mong thế hệ trẻ các cháu tiếp tục giữ vững truyền thống ấy.” Câu nói ấy khiến tôi lặng người. Bởi tôi hiểu, những gì chúng tôi đang có hôm nay - hòa bình, tự do, hạnh phúc - đều được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt và bằng cả tuổi xuân của những con người như bác.

Và chúng tôi - những đoàn viên thanh niên xã Hà Nam - nguyện tiếp bước cha anh, chung tay xây dựng quê hương đất nước, xin nguyện đi đầu trong hành trình phụng sự Tổ quốc và nhân dân, để xứng đáng với những hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của lớp cha anh đã làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn