Khác

HỒNG QUÂN TRONG THỜI KỲ NỘI CHIẾN

Sau khi Cách mạng tháng Mười thành công, Nhà nước Xô-viết nhận thấy rằng các đội Cận vệ đỏ chiến đấu rất anh dũng, nhưng với nhiệm vụ mới bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đội cận vệ số lượng ít, phân tán, thiếu huấn luyện, không thích hợp với hoàn cảnh mới. Do đó, Nhà nước Xô-viết và Lênin chú trọng đến việc cần thiết phải xây dựng một quân đội có tổ chức huấn luyện và được trang bị hơn. Lênin đã đề ra vấn đề giảm bỏ tính lưu động, tính du kích của quân đội; ngày 28 tháng 1 năm 1918 Lênin ký sắ

25/02/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trong sắc lệnh có nói: "Quân đội cũ là một công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức giai cấp công nhân. Theo với sự chuyển biến chính quyền từ trong tay giai cấp bóc lột sang tay nhân dân lao động và giai cấp bị bóc lột, cần thiết đề ra việc xây dựng một quân đội mới làm cốt cán cho chính quyền Xô-viết" (Con đường chiến đấu của quân đội Liên Xô, trang 13).


Bắt tay vào xây dựng Hồng quân, một quân đội hoàn toàn mới mẻ về nhiều mặt, Nhà nước Xô-viết gặp phải rất nhiều khó khăn. Điều khó khăn trước tiên và khó giải quyết nhất là cán bộ. Tình hình cán bộ rất thiếu thốn, về vũ khí, trang bị có thể lấy được của quân đội Nga hoàng mà dùng và có thể phát huy được tác dụng lớn hơn, nhưng về cán bộ không thể lấy hoàn toàn, lấy hết của quân đội Nga hoàng, không thể phát huy tác dụng lớn hơn được nếu không cải tạo. Hồng quân cần có những cán bộ trung thành với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và học hỏi được từ thực tế kỹ thuật quân sự. Trong khi đó các phần tử Men-sê-vích, xã hội cách mạng và các phần tử gian trá của giai cấp tư sản lọt vào trong hàng ngũ Hồng quân tìm mọi cách ngăn trở, phá rối công cuộc xây dựng của Hồng quân.


Bọn chúng đã chống lại chính sách quân sự của Đảng, không muốn thành lập một đội Hồng quân chính quy có tổ chức, có kỷ luật. Chúng âm mưu sát hại các đồng chí Bôn-sê-vích lãnh đạo trong quân đội. Việc xây dựng Hồng quân còn gặp khó khăn trong hoàn cảnh cách mạng vừa thành công thì cuộc nội chiến chống vũ trang can thiệp của các nước đế quốc bên ngoài lại tới liền.


Đảng đã kiên trì chống mọi khuynh hướng sai lầm và tập trung lực lượng xây dựng Hồng quân. Lênin đưa ra khẩu hiệu: "Cả nước là trại lính", "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả cho thắng lợi". Nguyên tắc tình nguyện tòng quân đổi thành nghĩa vụ quân sự. Gần một nửa tổng số đảng viên, đoàn viên thanh niên cộng sản có mặt ở ngoài mặt trận, số khác thì làm công tác xây dựng và tiếp tế ở hậu phương.


Để đảm bảo cho các phần tử phản động khỏi lọt vào trong quân đội, để giữ vững vai trò của Hồng quân là một công cụ vững chắc nhất của chuyên chính vô sản, mọi người nhập ngũ đều cần có hai người giới thiệu đứng trong các cơ quan chính quyền hoặc đoàn thể cách mạng. Để bồi dưỡng nhân tài và đào tạo cán bộ, Đảng quy định mọi đảng viên đều phải nghiên cứu quân sự và theo chỉ thị của Lênin mở ra trường đào tạo cán bộ Hồng quân. Để giữ vững đường lối chính trị của Đảng trong quân đội, các đơn vị đều lập chế độ chính ủy. Nhờ đó quân đội càng chấp hành có hiệu quả mọi chủ trương, chính sách của Đảng trong quân đội, sinh hoạt chính trị của quân đội càng được chú ý và như thế là bản chất của quân đội cách mạng càng được bồi dưỡng. Muốn củng cố chính quyền Xô-viết và chuẩn bị lực lượng, Đảng đưa ra chủ trương một mặt đàm phán hòa bình, một mặt gấp rút xây dựng lực lượng.


Bọn đế quốc chủ nghĩa tưởng có thể bóp chết ngay trong buổi sơ sinh chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng hăm hở tấn công. Nhưng sau một số thất bại đau đớn ở Pơ-scốp và Nác-va xem chừng khó nuốt được chính quyền Xô-viết, đế quốc Đức nhận đàm phán. Hòa ước Brét-li-tốp được ký. Để kỷ niệm thắng lợi đầu tiên vẻ vang đó, Nhà nước Xô-viết lấy ngày 23 tháng 2 năm 1918, ngày đánh bại quân đội Đức, làm ngày sinh nhật của Hồng quân.


Miếng đòn đầu tiên giáng vào đầu con rắn Đức như thế chưa có thể làm chùn được các con rắn đế quốc khác. Ngay sau khi chiến tranh giữa các nước đế quốc kết thúc, chúng đầy căm thù tiến công tứ phía vào chính quyền Xô-viết.


Trước sự bao vây tấn công của các nước đế quốc và sự phản kháng của bọn Bạch vệ trong nước, nhân dân và Nhà nước Xô-viết đã hết sức chiến đấu để giữ vững chế độ tốt đẹp của mình. Điều khó khăn nhất lúc đó là thiếu lương thực và vũ khí.


Đảng nhận định một cách biện chứng rằng: muốn thắng lợi trong cuộc chiến tranh, ngoài sức mạnh tinh thần, phải có cả sức mạnh vật chất nữa, sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất không chống đối nhau, trái lại cùng kết hợp khăng khít với nhau mà phát triển.


Đảng còn nhận định rằng: không phải chỉ có bộ đội vũ trang tiến hành chiến tranh mà phải là toàn dân. Vì thế Lênin mới đưa ra khẩu hiệu: "Cả nước là một trại lính". Vì thế mà chính sách "cộng sản thời chiến" của Lênin mới ra đời. Tất cả những điều đó đều cần thiết để bảo đảm cho Hồng quân chiến đấu thắng lợi. Các công xưởng làm việc ngày đêm cung cấp vũ khí cho quân đội. Lương thực của nông dân tập trung vào cho mặt trận và công xưởng.


Tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội dưới sự động viên và lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích cùng các biện pháp bảo đảm của Đảng và Nhà nước đã chiến thắng. Hồng quân đã bảo vệ được Xa-rít-xin, một trung tâm chiến lược quan trọng ở miền Nam. Giữ được vùng Xa-rít-xin thì khống chế được các vùng Cô-ca-dơ U-cơ-ren và Trung Á. Đồng chí Sta-lin đã được cử xuống chỉ huy mặt trận này. Tập đoàn quân thứ 10 của Hồng quân cùng các đội Tự vệ công nhân đã đánh tan 6 vạn quân phản cách mạng do tên tướng Bạch vệ Cơ-sát-nốp chỉ huy. Trong khi đó thì ở vùng Vôn-ga vào khoảng từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1918 Tập đoàn quân thứ nhất của Chính ủy Qui-bi-sép có Hạm đội Vôn-ga tham gia cũng đánh tan quân Tiệp, đuổi chúng tới U-ran, giải phóng Nam U-ran cùng với bộ đội Tuyếc-két-tăng hội sư1 (Hội sư là 2 cánh quân cùng tiến đánh tiêu diệt được quân địch rồi gặp nhau).


Bọn đế quốc can thiệp vẫn không từ bỏ âm mưu đen tối của chúng. Một mặt chúng đem quân vào Hắc Hải, vào biên thùy nam Si-bê-ri, vào biên thùy phía bắc vùng Pê-trô-grát, một mặt chúng phát động bọn Bạch vệ nổi dậy. Ở miền Đông, có bọn Kôn-tơ-sắc, ở miền Nam có bọn Đê-ni-kin và bọn Krát-snốp, ở miền Bắc có bọn I-u-đê-ních.


Trước tình hình đó, Lênin nhận định mặt trận phía Đông quan trọng hơn hết và kêu gọi toàn Đảng, toàn dân tập trung lực lượng bảo đảm cung cấp cho quân đội để chiến thắng ở phía Đông.

Được các nơi trong nước chi viện, Hồng quân đánh tan được quân địch ở phía Đông. Phơ-run-giê đặt kế hoạch tấn công tập trung chủ lực thành một binh đoàn đột kích chủ yếu đánh ở bên phải từ phía nam lên, còn các bộ phận khác đánh vào U-ran phối hợp với du kích ở Si-bê-ri. Kế hoạch đó đã thực hiện thành công. Sư đoàn 25 của Sa-pa-ép đã tạo được nhiều thành tích vẻ vang trong chiến dịch này. Du kích hoạt động cũng rất mạnh góp phần công lao chiến thắng. Thế là bọn Kôn-tơ-sắc ở miền Đông bị đánh tan.


Sau đó trung tâm chiến trường chuyển lên phía bắc. Vì Hồng quân ở đây mắc sai lầm trong kế hoạch tác chiến và có nội phản nên quân địch lúc đầu thu được ít thắng lợi, đánh sát tới cửa ngõ Pê-trô-grát.

Trước tình thế nguy cấp đó, Đảng tập trung lực lượng và phái một số cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm tới. Cuối cùng Hồng quân vẫn giữ vững Pê-trô-grát và chuyển sang phản công. Ngày 21 tháng 6 năm 1919, Hồng quân đánh tan quân Phần-Lan và bọn I-u-đê-ních. Cuộc tấn công thứ nhất của bọn đế quốc can thiệp và bọn Bạch vệ bị thất bại.


Đông thua, bắc thua, bọn đế quốc liền xoay chiều. Chỉ còn phía nam và tây. Nhưng cả hai cuộc tiến công thứ 2 (ở phía nam), thứ 3 (ở phía tây) đều bị thất bại. Trong trận tấn công thứ 3, Hồng quân có cả binh đoàn kỵ binh tham gia chiến đấu, lập được nhiều thành tích, ở Viễn Đông, Hồng quân cũng đánh bại các cuộc tấn công của đế quốc Nhật.


Thế là trước tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân và quân đội cách mạng, chủ nghĩa đế quốc buộc phải lùi bước.

Thắng lợi giành được trong cuộc chiến tranh chống cả một tập đoàn đế quốc chủ nghĩa cấu kết với thế lực phản động trong nước thật không phải là một chuyện thường. Ít người tưởng tượng được điều đó. Bọn đế quốc mù quáng tưởng rằng chúng có tiền của, vũ khí, quân đội nhà nghề là chúng làm trời, chúng thắng được tất cả. Chúng không hiểu được sức mạnh của quần chúng cách mạng là thế nào. Chỉ có những người cộng sản mới tin được điều này. Dựa trên quan điểm quần chúng Lênin đã phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh chính nghĩa (cách mạng).

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2306


Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh« Trả lời #6 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2022, 07:13:11 pm »
Cuộc chiến tranh chính nghĩa (cách mạng) là một cuộc chiến tranh của toàn dân, vì lợi ích của nhân dân, Lênin đã thấy trước có thể phát động được toàn dân tham gia chiến đấu, những người được chia ruộng đất, được sống tự do sẽ nhất định đứng lên để bảo vệ lấy những quyền lợi đã giành được của mình. Khi họ đã giác ngộ, có tổ chức, có lãnh đạo, đoàn kết thành một khối thì không có một sức mạnh nào có thể phá nổi. Ngoài ra vì chủ nghĩa xã hội là điều mong mỏi của nhân dân lao động thế giới, nhất định nó sẽ được ủng hộ rộng rãi trên toàn thế giới, ở điểm này chúng ta thấy được nguyên lý của Lênin về chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân.


Nhưng tiến hành chiến tranh nhân dân không phải chỉ tổ chức nhân dân đánh du kích, chiến đấu tại chỗ từng địa phương, rời rạc lẻ tẻ với các vũ khí thô sơ, mà phải tiến tới có những bộ phận cốt cán, tập trung có tổ chức, có trình độ kỹ thuật và trang bị cao hơn. Không thế không thể giành được những thắng lợi quyết định. Vì thế Đảng và Lênin đã chú ý ngay từ đầu đến việc tổ chức Hồng quân. Phải có hai lực lượng du kích và chính quy đó kết hợp được chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau chiến đấu mới có thể chiến thắng quân thù. Giai cấp tư sản không thể nhận thức đầy đủ được vấn đề này. Không có một thế giới quan và một nhân sinh quan đúng đắn, chúng không bao giờ tin ở lực lượng quần chúng nhân dân, chúng không biết gì đến sức mạnh của chính nghĩa. Chúng chỉ tin ở vũ khí, ở tài và thủ đoạn mưu lược của một số người chỉ huy. Đến khi thất bại chúng không thể cắt nghĩa được nên lại đâm ra hoang mang, hoài nghi rồi đâm ra mê tín, tin ở may rủi, số phận. Đó là quan điểm duy tâm của giai cấp tư sản về chiến tranh.


Tư tưởng chỉ đạo chiến thuật của Đảng và Lênin là lấy tấn công làm hình thức chủ yếu nhất, hình thức quyết định. Lênin cũng như Mác coi vũ trang khởi nghĩa như một nghệ thuật với một tinh thần tấn công kiên quyết nhất.


Tư tưởng tích cực tấn công kiên quyết của Lênin đã trở thành tư tưởng quân sự và thấm nhuần bản chất chiến đấu của Hồng quân.

Dặn dò về kế hoạch chuẩn bị võ trang khởi nghĩa ở Pê-trô-grát Lênin đã dẫn chứng một câu của Mác như sau: "Khi cuộc khởi nghĩa đã bắt đầu thì phải hành động kiên quyết nhất, hơn nữa phải nhất định và tuyệt đối thực hành tấn công. Phòng ngự là con đường chết của võ trang khởi nghĩa"1 (Thư của một người vắng mặt. Tuyển tập Lênin bản chữ Pháp, tập 2, phần 1, trang 177, 179, Nxb Ngoại văn. M. 1954).


Nhưng điều khôn khéo và tài tình của Lênin là đã biết vận dụng các hình thức chiến thuật một cách hợp thời, hợp với thực tế.

Lênin đã nói đến phòng ngự, nhận thức đúng mức vai trò của phòng ngự và đề ra nhiệm vụ phòng ngự khi cần thiết.

Lênin nói rằng: "Một quân đội thường thắng lợi, đã chiếm được một nửa hoặc hai phần ba đất đai của quân địch, lúc đó quân đội ấy không thể không đình chỉ tấn công, để tập hợp lực lượng, tăng thêm dự trữ về vũ khí, đạn dược, sửa chữa và củng cố đường giao thông, xây dựng kho quân nhu mới, điều động tập trung hậu bị quân, v.v... Trong điều kiện đó, đình chỉ tấn công chính là để cho quân đội thường thắng chiếm được hết đất đai còn lại của địch, tức là điều cần thiết để thu được thắng lợi hoàn toàn (Giai đoạn đấu tranh mới với giai cấp tư sản, nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô-viết). Chính lúc đầu cuộc chiến tranh nội chiến và chống can thiệp, Lênin đã đề ra phòng ngự và sau một thời gian thì chuyển sang tấn công.


Nguyên lý này đã được nhắc lại lúc đầu cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô sau này. Hiện nay Nhà nước và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa cũng đang theo nguyên lý ấy. Nguyên lý ấy khác hẳn với tư tưởng quân sự của giai cấp tư sản, nhận thức một cách phiến diện về tấn công và phòng ngự. (Thí dụ: tư tưởng quân sự của quân đội Đức thì nặng nề về tấn công rất coi nhẹ phòng ngự mà tư tưởng quân sự của quân đội Pháp thì lại nghiêng về phòng ngự, coi nhẹ tấn công). Lênin nhận định vấn đề này một cách toàn diện không những trong phạm vi chiến thuật mà còn nhận định một cách toàn diện, trong phạm vi cả cuộc chiến tranh.


Chiến tranh là một hình thức đấu tranh gay gắt nhất, cao nhất về các mặt. Nó không phải chỉ là một cuộc giao chiến giữa hai quân đội ngoài mặt trận, mà còn là một cuộc thử thách của chế độ chính trị, là một cuộc ganh đua của tài tổ chức, là một cuộc động viên ở hậu phương. Lênin rất chú ý đến việc động viên ở hậu phương, phát động tinh thần lao động sản xuất ở hậu phương để lấy lương thực, vũ khí cung cấp cho tiền tuyến. Một quân đội không có một hậu phương chắc chắn thì không thể sinh tồn và chiến thắng được. Nói lực lượng hậu phương không phải chỉ kể những thứ của cải đã có, những người đã có, mà còn phải kể đến lực lượng tiềm tàng sức người, sức của do phát huy tinh thần chiến đấu và lao động sản xuất đến cao độ mà có. Đó là những điều quan trọng để duy trì một cuộc chiến tranh lâu dài, giành lấy thắng lợi cuối cùng.


Lênin đã nói: "Ai có nhiều nguồn dự trữ, nhiều nguền lực lượng hơn thì người đó sẽ thắng trong chiến tranh".

Cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của nhân dân Liên Xô chống thù trong giặc ngoài đã thắng lợi vẻ vang. Giành được thắng lợi đó phải thật là anh dũng, thật là gian khổ. Không có chính sách đúng đắn của Đảng, tập trung tất cả vào việc chiến đấu đánh bại kẻ thù của chế độ Xô-viết, tìm mọi biện pháp để bảo đảm chiến đấu, phát động được quần chúng cả nước tham gia chiến đấu, không có tinh thần cách mạng của nhân dân chiu đựng moi hy sinh gian khổ, tinh thần anh dũng phi thường của quân đội, không có tay chèo vững chắc của Đảng cộng sản, không có những cái đó thì không thể thắng lợi, chế độ Xô-viết không thể sống còn được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn