Huyền thoại về nữ Anh hùng Y Buông và nồi cơm nuôi quân
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Y Buông sinh năm 1945 tại làng Đăk Rế, xã Đắk Na, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum (cũ), nay là xã Đăk Sao, tỉnh Quảng Ngãi. Bà là một trong những tấm gương tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Câu chuyện thời hoa lửa: Huyền thoại về nữ Anh hùng Y Buông và nồi cơm nuôi quân
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Y Buông sinh năm 1945 tại làng Đăk Rế, xã Đắk Na, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum (cũ), nay là xã Đăk Sao, tỉnh Quảng Ngãi. Bà là một trong những tấm gương tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số Bắc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Dù đã bước sang tuổi xế chiều, mỗi khi nhắc lại những năm tháng chiến tranh, bà Y Buông vẫn nhớ như in những ngày gian khổ mà hào hùng ấy. Bà kể: “Từ nhỏ tôi đã được cha mẹ cho tham gia giúp đỡ cách mạng. Năm 13 tuổi, tôi đi đưa cơm, dẫn đường cho cán bộ hoạt động trong vùng tạm chiếm. Đến năm 15 tuổi, chứng kiến cảnh giặc đốt làng, giết hại đồng bào, tôi xin cha cho đi bộ đội để góp sức bảo vệ quê hương”.
Ban đầu, Y Buông được giao nhiệm vụ nấu ăn cho cán bộ, chiến sĩ tại căn cứ kháng chiến. Năm 1965, bà trở thành chị nuôi của Đại đội 1, Tiểu đoàn 304, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum. Công việc của bà không chỉ là nấu cơm mà còn phải theo đơn vị hành quân qua núi cao, suối sâu, nhiều lần đi trong vùng bom đạn ác liệt.
Những năm từ 1960 đến 1973, chiến trường Bắc Tây Nguyên vô cùng khốc liệt. Có lúc đơn vị thiếu lương thực, Y Buông phải vào rừng sâu bẻ măng, đào củ rừng mang về nấu cho bộ đội. Thấy thương binh đau yếu, bà xuống suối bắt cua, bắt tép nấu cháo để các anh mau hồi phục. Dù gian khổ đến đâu, bà luôn tâm niệm phải để bộ đội được ăn no, có sức đánh giặc.
Nhắc đến những ngày ấy, bà nhớ nhất là lần đơn vị bị địch phát hiện và pháo kích dữ dội. Khi đó bà vừa nấu xong nồi cơm cho bộ đội. Thay vì chạy vào hầm trú ẩn, bà lao tới ôm chặt nồi cơm, lấy thân mình che chắn. Đất đá và cây rừng bị sức ép bom đạn hất tung vùi lấp cả người và nồi cơm. Khi đồng đội đào đất cứu bà lên, bà bị thương nặng nhưng nồi cơm vẫn còn nguyên vẹn.
Bà xúc động kể lại: “Nếu mình có hy sinh thì vẫn còn người khác thay mình nấu cơm, nhưng nếu nồi cơm mất đi thì bộ đội sẽ đói. Tôi chỉ nghĩ làm sao để các anh được ăn no, có sức đánh giặc, quê hương sớm được giải phóng”.
Không chỉ tận tụy với nhiệm vụ nuôi quân, Y Buông còn là một chiến sĩ dũng cảm. Năm 1967, khi địch tập kích hậu cứ, bà cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt. Riêng bà đã sử dụng lựu đạn và súng cạc-bin tiêu diệt 4 tên địch, góp phần bảo vệ an toàn đơn vị.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 20 tháng 12 năm 1973, Y Buông được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận sự hy sinh, lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của người phụ nữ dân tộc Xơ Đăng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Câu chuyện về nữ Anh hùng Y Buông và “nồi cơm nuôi quân” đã trở thành huyền thoại đẹp của vùng đất Bắc Tây Nguyên. Tấm gương của bà nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc, đồng thời ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.


