Kết cục thảm hại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719"-Bài 1: Cuộc thử nghiệm phiêu lưu
Kết cục thảm hại của cuộc hành quân "Lam Sơn 719"-Bài 1: Cuộc thử nghiệm phiêu lưu
Sau thất bại trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ", cùng với sức ép của ta trên bàn đàm phán ở Hội nghị Paris và phong trào phản đối chiến tranh lan rộng khắp thế giới, đế quốc Mỹ đề ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", dùng ngụy quân Sài Gòn dần thay thế quân đội Mỹ. Để ngụy quân đủ sức đương đầu với quân ta, đế quốc Mỹ tập trung cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam, trong đó Đường 9-Nam Lào được chúng xác định là một huyết mạch đặc biệt quan trọng, là "cuống họng" của tuyến Đường Hồ Chí Minh. Do vậy, đầu năm 1971, địch mở cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" nhằm cắt đứt, tiến tới phá hủy hoàn toàn tuyến vận tải và căn cứ hậu cần chiến lược của ta tại khu vực Đường 9-Nam Lào.
Máy bay Mỹ bị Quân giải phóng bắn rơi trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, năm 1971. Ảnh: TTXVNĐây là một trong những thời kỳ khó khăn nhất, tổn thất lớn nhất của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hầu hết quân chủ lực của ta phải tạm thời rút ra miền Bắc củng cố hoặc chuyển sang bên kia biên giới, một số đơn vị phải giải thể. Thế và lực tiến công của ta bị suy giảm đáng kể.Tháng 3-1970, đế quốc Mỹ hậu thuẫn đảo chính ở Campuchia, lật đổ Chính phủ Sihanouk, lập chính quyền tay sai Lon Nol. Tháng 4-1970, 10 vạn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tràn qua biên giới Campuchia, phối hợp với quân Lon Nol, mở cuộc hành binh lớn tập trung đánh vào hai khu vực Móc Câu và Mỏ Vẹt (Đông Bắc Campuchia) hòng tiêu diệt lực lượng ta và chụp bắt cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Trước đó, đế quốc Mỹ đã đẩy mạnh chiến tranh bằng không quân, mở rộng ném bom sang Lào. Từ tháng 8-1969, Mỹ cùng lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân phái hữu Lào mở cuộc hành quân “Cù Kiệt” lấn chiếm Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng, làm bàn đạp tiến công sâu vào vùng giải phóng uy hiếp căn cứ địa cách mạng Lào ở Sầm Nưa.Đồng thời với việc tiến hành mở rộng chiến tranh, Mỹ ra sức xây dựng "nâng cấp" lực lượng ngụy quân, coi đây là nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Chúng đẩy mạnh đôn quân, bắt lính, đến cuối năm 1970, chủ lực của ngụy quân có hơn 700.000 tên. Bên cạnh đó, có 268.000 tên bảo an dân vệ, 90.000 cảnh sát vũ trang. Mỹ chú trọng xây dựng lực lượng hải quân và không quân, gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thủy thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho ngụy quân Sài Gòn. Cùng với việc tăng cường lực lượng, đế quốc Mỹ còn tăng viện trợ quân sự, đẩy mạnh trang bị các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Không quân ngụy được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1.500 máy bay lên thẳng.Tháng 3-1970, ngụy quân thành lập thêm một sư đoàn không quân, cùng nhiều sư đoàn độc lập khác; hải quân được trang bị thêm 1.600 thuyền chiến đấu các loại và tuần dương hạm DE. Để tăng thêm sức mạnh cho ngụy quân, Mỹ chuyển sang Nam Việt Nam 700.000 súng M16, 30.000 khẩu súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại, 200 xe tăng M41, M48, 100 xe bọc thép (nâng số xe tăng, thiết giáp của ngụy quân Sài Gòn lên gần 1.900 chiếc).


