NHỮNG THÁNG TƯ KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
Tháng 4 năm 1965 - chuyến công tác đầu tiên trên Trường Sơn
Lúc đó tôi là cán bộ kỹ thuật của Ban Kiến thiết 201 cầu Hàm Rồng Thanh Hoá, đang đi công tác tại Lạng Sơn thì nhận được quyết định ngày 01 tháng 4 phải có mặt tại Văn phòng Bộ Giao thông vận tải để nhận nhiệm vụ mới.
Về đến Bộ, tôi được quán triệt đi làm nhiệm vụ đặc biệt vào Đoàn 559 mở đường Trường Sơn, nơi chính Bộ trưởng Giao thông vận tải, Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ.
Đoàn đầu tiên của Bộ vào Trường Sơn được biên chế 10 người do anh Nguyễn Nam Hải, Phó Viện trưởng Viện Thiết kế Giao thông làm Trưởng đoàn. Trong đoàn hầu hết là những cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm ở cơ quan Bộ, chỉ có 3 cán bộ kỹ thuật trẻ được điều động từ các công trường về, đó là kỹ sư Nguyễn Văn Lạng, quê Cổ Đô, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), anh Lê Doãn Hoàng, quê Quảng Nam và tôi. Cuộc họp chuẩn bị rất khẩn trương để lên đường ngay.
Ngày 03 và 04 tháng 4 năm 1965, không quân Mỹ đánh cầu Hàm Rồng thì đến ngày 05 tháng 4, đoàn chúng tôi xuất phát từ Hà Nội bằng xe ôtô. Qua cầu Hàm Rồng vào ban đêm, một xúc cảm tự nhiên dâng tràn trong tôi. Tôi đã có 3 năm góp công sức xây dựng nên cây cầu nay đang bị không quân Mỹ tập trung đánh phá, nơi đây có đơn vị tôi đang công tác và người tôi yêu đang sống, bây giờ không biêt họ sơ tán nơi đâu? Tôi chỉ còn biết gửi lời chào tạm biệt qua lá thư viết vội, khi xe nghỉ tại Rừng Thông, Thanh Hoá.
Vào đến Quảng Bình, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nhạn, Tham mưu phó Đoàn 559, Phụ trách Công binh đón tại Sở chỉ huy Hậu phương và giao nhiệm vụ cụ thể là đi khảo sát trước, tiếp đó chuẩn bị đón lực lượng thi công vào mở đường 128 nối từ đường 12 vào đường số 9. Tại đây chúng tôi phải để lại giấy tờ sinh hoạt Đảng, giấy tuỳ thân và quần áo, trang bị cá nhân để nhận quân trang mới gồm ba lô, 2 bộ quân phục bộ đội Pa Thét Lào, tăng võng, bi đông nước, gạo, muối, mắm kem, xoong nồi nấu ăn và mỗi người một khẩu súng trường, riêng anh Nam Hải có một khẩu súng ngắn. Đoàn được bổ sung hai đồng chí bộ đội. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường sau một ngày chuẩn bị. Theo đường 12, vượt biên giới, đến một khu rừng săng lẻ thuộc đất Lào thì xe không còn đường để đi tiếp nữa, phải dừng lại.
Sau khi nghiên cứu địa hình, thống nhất hướng tuyến và các điểm khống chế trên bản đồ, chúng tôi bắt đầu đi bộ bám địa hình để xác định hướng tuyến. Lúc này, phía tây Trường Sơn, đất Lào đang là mùa khô, không quân địch chưa đánh phá, nhân dân các bộ tộc Lào đang sống yên bình tại các bản dọc tuyến đường sẽ mở. Đoàn chúng tôi được nhân dân Lào nhiệt tình giúp đỡ, cử người thông thạo địa hình dẫn đường mời ngủ trên nhà sàn, buổi sáng còn cho mỗi người một tuýp xôi ăn đường. Cứ như thế chúng tôi đi qua các bản Tha Pa Chôn, Lùm Pùm, Cốc Mạc, bản Bung, bản Noọng Kà Deng... để thị sát tuyến đường. Đến bản Bung, một bản dân tộc Lào Lum khá đẹp, có nhiều nhà sàn lớn, nhiều cây xoài cành trĩu quả chín vàng, chúng tôi gặp đoàn của đồng chí Lê Nghĩa Sỹ, cán bộ Cục Chính trị Đoàn 559 trên đường đi ra. Đêm đó, ngồi gác với anh Cam, một cán bộ của phòng Bảo vệ vào tuyến đã lâu, anh cho biết phía trong đường số 9 cũng đang có một trung đoàn công binh mở đường cơ giới.
Tình hình rất khẩn trương, đoàn chúng tôi miệt mài tìm đường, ngày đi rừng vạch tuyến, đêm nghỉ tại các bản dân dọc tuyến, nhưng phải tổ chức canh gác đêm, đề phòng địch mặt đất. Đến gần cuối tháng 4 thì xác định xong hướng tuyến đường 128 theo nhiệm vụ được giao. Đường được xác định từ Xóm Péng đến Na Bo trên đường số 9 dài khoảng 130 ki lô mét, nửa phía ngoài tương đối bằng phẳng, qua những cánh rừng già kín đáo, nửa phía trong qua hai đoạn đèo có độ dốc lớn, đó là Cốc Mạc và Vang Mu. Nhiều con suối lớn nhỏ cắt ngang tuyến đường. Cùng với việc xác định xong tuyến đường, đoàn cũng dự kiến kế hoạch vừa khảo sát thiết kế vừa thi công, dự kiến vị trí Công trường bộ 128, các trọng điểm phải tập trung lực lượng thi công.
Kết thúc việc thị sát xác định tuyến đường, vào cuối tháng 4 năm 1965 chúng tôi đón Công trường bộ 128 do anh Nguyễn Lang, Cục phó Cuc Công trình 1 Bộ Giao thông vận tải làm Chỉ huy trưởng vào triển khai công tác chuẩn bị; và giữa tháng 5, lực lượng thi công đầu tiên hơn 1.000 công nhân, 20 máy húc do anh Lam Chi chỉ huy vào thực hiện nhiệm vụ thi công. Đây là lực lượng thi công cơ giới lớn nhất của Bộ Giao thông vận tải đang thi công tại đường số 6 được điều vào chiến trường.
Chuyến công tác đầu tiên trên đường Trường Sơn của chúng tôi đã hoàn thành. Hầu hết anh em trong đoàn ở lại bổ sung cho Công trường 128. Với tôi, cuộc chiến đấu mới vô cùng ác liệt, gian khổ kéo dài 8 năm trên đường huyền thoại bắt đầu. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Ký ức công binh Trường Sơn« Trả lời #2 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2023, 07:32:47 am » | Tháng 4 năm 1973 - chuyến đi công tác cuối cùng trên đường Trường Sơn
Đầu tháng 4 năm 1973, Bộ Tư lệnh 559 tổ chức đoàn công tác kiểm tra đường phía tây Trường Sơn do Chính uỷ Đặng Tính (mật danh 602) dẫn đầu. Đoàn gồm đủ các cơ quan chức năng thuộc Bộ Tư lệnh: Cục Chính trị, Bộ Tham mưu, Cục Tham mưu Công binh, Cục Vận tải, Cục Hậu cần. Anh Nguyễn Thúc Yêm, mới được điều động giữ nhiệm vụ Cục phó Cục Tham mưu Công binh, và tôi - Trợ lý phòng Bảo đảm giao thông cùng tham gia đoàn. Đi cùng xe Cục Công binh còn có nhà thơ Chế Lan Viên, nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, là những văn nghệ sĩ từ Hà Nội vào thực tế chiến trường.
Là lần đầu đi công tác với Chính uỷ Đặng Tính, nên tôi chuẩn bị rất kỹ trước khi lên đường. Tôi đã làm việc với các đơn vị nắm kỹ lại tình hình đường sá, các đơn vị công binh trên hành trình đường đi. Tôi mang theo bản đồ có vẽ đủ các tuyến đường phía tây, bản đồ chi tiết các trọng điểm lớn nơi địch đã tập trung đánh phá để sẵn sàng báo cáo Đoàn trên đường công tác.
Lúc này đang là mùa khô, sau hiệp nghị Paris về Việt Nam đã ký kết ngày 07 tháng 01 năm 1973, địch đã phải ngừng đánh phá bằng không quân ở Việt Nam và Lào.
Đoàn xuất phát từ sở chỉ huy lúc này ở Quảng Bình, đi theo đường 20 vào đường 128. Đây là lần đầu tiên cả một đoàn công tác lớn của Bộ Tư lệnh được đi ban ngày, được ngắm nhìn khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn và những con đường đã thâm bao máu xương của các lực lượng xây dựng và bảo vệ nó để vận chuyển và chi viện cho các chiến trường miền Nam.
Đến Phu La Nhích, đứng ban ngày trên đỉnh đèo mới thấy hết sự đánh phá tàn ác khủng khiếp của không quân Mỹ trên cả vùng tập đoàn trọng điểm ATP. Hàng chục ki lô mét vuông, hố bom chằng chịt, không còn một bóng cây ngọn cỏ. Đến nơi đây tôi đã báo cáo với Đoàn về sự sáng tạo và ý chí kiên cường dũng cảm của bộ đội công binh, thanh niên xung phong trong xây dựng thế trận cầu đường vững chắc, liên hoàn với 5 đường vượt trọng điểm, có đường đi đội hình nhỏ, có đường cả tiểu đoàn xe chở hàng đội hình vận chuyển lớn, có đường kín xe chạy ban ngày, với các phương thức vượt sông bằng ngầm, bằng phà, có năm tranh thủ giao mùa bằng cầu cáp, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống.
Đứng trên đỉnh đèo Phu La Nhích, bỗng nhiên tôi nhớ đến hai người bạn cùng trong đoàn vào Trường Sơn với tôi tháng tư năm ấy, kỹ sư Nguyễn Văn Lạng và anh Lê Doãn Hoàng, cán bộ kỹ thuật trung cấp cầu đường, đã hy sinh trong trận đánh bom đầu tiên khi các anh đang tìm đường tránh Phu La Nhích đầu năm 1966. Tôi nhớ đến kỹ sư Phan Vũ Trang, người bạn trong đội bóng đá của công trường Hàm Rồng cùng tôi năm xưa đã hy sinh khi đang chỉ đạo thi công cầu cáp vượt sông Ta Lê năm 1967, và biết bao đồng chí đồng đội ngã xuống ở trọng điểm nổi tiếng ác liệt này.
Đi trên đường 128 đoạn Lùm Pùm vào đến đường số 9, tôi đã kể cho các anh văn nghệ sĩ ngồi cùng xe nghe về những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn khi mở tuyến đường này trong mùa mưa khốc liệt năm 1965.
Năm ấy, mùa mưa đầu tiên mở đường cơ giới trên Trường Sơn, mưa rất lớn kéo dài liên tục, nước các sông dâng cao đường bị ngập, bị nước lũ tàn phá. Công trường 128 phải lát đến 40 ki lô mét đường rông đanh, mỗi ki lô mét khoảng hơn 3.000 cây gỗ dài khoảng 3 mét, đường kính 10 đến 15 cen ti mét để chống lầy. Nhưng tiếp tế vật chất đảm bảo rất khó khăn, gạo không đủ ăn, phải giảm khẩu phần vốn đã ít ỏi của mình. Hơn 2.000 các bộ chiến sĩ, công nhân giao thông, thanh niên xung phong vẫn quyết tâm vượt mọi khó khăn để mở đường. Khó khăn nhất vẫn là với chị em thanh niên xung phong, quần áo chỉ có hai bộ, lao động đầm mưa ướt sũng cả ngày, tối về có cô không còn quần áo khô, đành chui vào chăn chờ bạn đốt lửa hong khô quần áo mới có mặc. Ghẻ lở, chấy rận, tóc rụng, bệnh phụ khoa phát triển, ốm yếu, sốt rét nẩy sinh, nhưng chị em vẫn làm việc quên mình.
Với quyết tâm đó của cán bộ chiến sĩ, đầu tháng 11 năm 1965, đường đã thông, những chuyến xe đầu tiên đã bắt đầu chở hàng cho chiến trường, mở ra thời kỳ vận chuyển cơ giới trên Trường Sơn.
Đến trọng điểm Tha Mé, gặp tổ công binh chốt bảo đảm giao thông trên đèo, trong lúc nghỉ hỏi chuyện anh em, Chính uỷ Đặng Tính đã tự tay cắt tóc cho một chiến sỹ. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp, giữa nơi từng đã là trọng điêm bị đánh phá ác liệt còn chằng chịt hố bom đỏ ngầu, Chính uỷ chiến trường, mái đầu điểm bạc ung dung cắt tóc cho người chiến sĩ công binh trẻ giữa bầu trời vờn đám mây xám...
- “Chính uỷ thật bình dị thương lính...” - nhà thơ Chế Lan Viên bình phẩm.
- "Chính uỷ còn làm thơ hay nữa” - tôi bổ sung.
Thật thế, khi đến Binh trạm 34, Chính uỷ nói chuyện với cán bộ Binh trạm, buổi nói chuyện vui vẻ thân tình, đầm ấm, Chính uỷ còn đọc mấy bài thơ do mình sáng tác rất hay về Trường Sơn.
Đoàn về chỉ huy sở Sư đoàn 471, đồng chí Vũ Quang Bình, Chính uỷ Sư đoàn 968 mời Chính uỷ Đặng Tính vào thăm đơn vị. Chính uỷ cùng một số ít cán bộ trong Đoàn cùng đi, còn đại bộ phận ở lại tiếp tục làm việc với Sư đoàn 471.
Đoạn đường vào Sư đoàn 968 do đơn vị tự quản lý đảm bảo. Một xe tải đi đầu có cán bộ của Trung đoàn sở tại thuộc Sư đoàn 968 và bí thư của Chính uỷ Đặng Tính, xe Chính uỷ Đặng Tính đi thứ hai và những cán bộ khác đi xe thứ ba. Ngày 04 tháng 4 năm 1973, xe của Chính uỷ trúng mìn trên đường vào chỉ huy sở Sư đoàn 968, cả 6 đồng chí trên xe hy sinh. Thi hài các đồng chí được đưa về bệnh xá Sư đoàn 471, chúng tôi thay nhau túc trực để quân y xư lý chuyên môn chuẩn bị đưa 3 đồng chí cán bộ cao cấp ra Bắc an táng. Ba đồng chí còn lại được an táng tại một cánh rừng gần chỉ huy sở Sư đoàn 471.
Chính uỷ Đặng Tính được đưa về Hà Nội mai táng tại nghĩa trang Mai Dịch, đồng chí Chính uỷ Sư đoàn 968 được mai táng tại Quảng Bình và đồng chí Cục phó Cục Tham mưu Công binh được đưa về quê Hà Tĩnh. Bộ đội Trường Sơn đau đớn chịu tang, một mất mát lớn đến nay không thể nào quên được.
Với tôi đó là chuyến đi công tác cuối cùng trên chiến trường Trường Sơn, chuyến đi gợi nhớ biết bao kỷ niệm với đồng chí đồng đội trong 8 năm chiến đấu. Chuyến đi có tổn thất nặng nề, mất người Chính uỷ mà toàn thể cán bộ chiến sỹ Trường Sơn quý mến.
Ngay sau chuyến đi đó, tôi đã nhận được quyết định đi đào tạo tại nước ngoài. Ngày 30 tháng 4 năm 1973, tôi tạm biệt đồng đội, tạm biệt Trường Sơn để bắt đầu một giai đoạn mới, giai đoạn 8 năm học tập, nghiên cứu khoa học quân sự tại Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên Xô. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Ký ức công binh Trường Sơn« Trả lời #3 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2023, 07:40:25 am » |

Đại tá ĐẶNG HƯƠNG
Sinh năm: 1931 Quê quán: Trà Lý, Đông Quý, Tiền Hải, Thái Bình Thường trú: Nhà 14, Ngách 102/25, đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38691865 - 0953 177559 Từ Bộ Tư lệnh công binh vào Đoàn 559 Nguyên Trưởng phòng Vật tư, Xe máy Cục TMCB, Bộ Tư lệnh Trường Sơn Nguyên Phó Tư lệnh Binh đoàn 12
ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH, VỚI CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ
Tôi có may mắn trờ thành chiến sĩ công binh từ năm 1951 trong đội hình Trung đoàn Công binh duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp: Trung đoàn Công binh 151. Một may mắn nữa là đơn vị tôi, Đại đội 53, Tiểu đoàn “em út” 106 thuộc Trung đoàn 151 được cùng Trung đoàn tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử ngay từ cuối năm 1953, sau khi cả Tiểu đoàn đã tham gia mở đường qua đèo Lũng Lô. Riêng Đại đội 53 chúng tôi từ tháng 11 năm 1953 đã được giao nhiệm vụ bảo đảm giao thông từ Sơn La lên tới Chiềng Pấc thuộc huyện Thuận Châu, ngày đó còn gọi là đường 41, nay là quốc lộ số 6. Tiếp đó là các Đại đội 52, 54 cùng trong Tiểu đoàn 106 bảo đảm giao thông từ Thuận Châu qua Tuần Giáo. Riêng Đại đội 52 còn đặc trách đèo Pha Đin lịch sử.
Ngày ấy trên đường ra trận, Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vượt qua Lũng Lô và Pha Đin nên càng có điều kiện hiểu rõ hơn vai trò của công binh trong chiến tranh. Có lẽ vì thế trong lễ duyệt binh tại Điện Biên, ngay sau ngày đại thắng, Tổng Tư lệnh đã có một đánh giá nổi tiếng "Không có những con đường ấy, không thể có chiến thắng này..." Chắc chắn ý Đại tướng muốn nhắc tới con đường dài hàng ngàn ki lô mét từ hậu phương ra tiền tuyến, đặc biệt là những con đường kéo pháo vào trận địa tạo ra những đòn sấm sét xuống đầu giặc Pháp ở Điện Biên Phủ ngày ấy.
Tất cả những con đường đó đều do lực lượng công binh chủ trì phối hợp với các lực lượng khác của quân đội, thanh niên xung phong và dân công tạo ra trong một thời điểm lịch sử.
Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ tôi lại có thêm vận may nữa là được làm một cán bộ công binh ở Bộ Tư lệnh Trường Sơn - Đoàn 559, có điều kiện tham gia nhiều sự kiện quan trọng của một đơn vị công binh trên một chiến trường đặc biệt.
Trong thời gian phục vụ ở Trường Sơn với hậu phương là tỉnh Quảng Bình, tôi đã được gặp gỡ nhiều đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Bình, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Từ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương đều đánh giá cao vai trò và tầm nhìn chiến lược, sự chỉ đạo của Đại Tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với Quảng Bình, đặc biệt là đối với hệ thống đường sá giao thông, và công tác chuẩn bị đối phó với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ sớm muộn cũng sẽ xảy ra. Sau này trong tập hồi ký "Tuyến lửa, những năm tháng sôi động" do sở Giao thông vận tải Quảng Bình phối hợp với Nhà xuất bản GTVT xuất bản và phát hành năm 1993, đồng chí Lại Văn Ly, nguyên Phó Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình, nguyên Trưởng ty Giao thông vận tải Quảng Bình, nguyên Trưởng ban Đảm bảo giao thông vận tải Quảng Bình, đã có dòng tâm sự sâu sắc: "Tháng 3 năm 1961, trong một chuyến vào thăm Quảng Bình, với tầm nhìn xa chiến lược của một nhà quân sự tài ba, Đại tướng đã nghĩ đến những phương án chủ động đảm bảo giao thông sắp tới, trong đó ý định trước hết là các tuyến đường mới vượt Trường Sơn...”.
Đại tướng đã nhận định: "Sắp tới đường 15A thông xe rồi, địch sẽ khống chế mạnh, ta phải có đường vượt qua Trường Sơn đi xuống đường 9... Trên cơ sở đó Đại tướng đã có một số chỉ thị và gợi ý cho Quảng Bình chuẩn bị sẵn sàng những phương án trước".
Vì thế không phải ngẫu nhiên mà Quảng Bình đã có những đóng góp to lớn vào hệ thống đường Hồ Chí Minh ở khu vực biên giới mà lính Trường Sơn quen gọi là khu vực vượt khẩu ác liệt nối hậu phương với tiền tuyến; từ đường 12 ở phía Bắc đến đường 16 ở phía Nam, đặc biệt là đường 20A nối Phong Nha - Quảng Bình với Lùm Bùm trên đất Bạn. Tất cả những tuyến đường đó đều có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Đại tướng Tổng Tư lệnh như các đồng chí lãnh đạo Quảng Bình và Bộ Tư lệnh 559 đã xác nhận tại nhiều văn kiện lịch sử.
Trong suốt 16 năm tồn tại, đường Hồ Chí Minh lịch sử, một tuyến vận tải chiến lược vĩ đại nhất không chỉ trong lịch sử chiến tranh Việt Nam mà cả trong lịch sử chiến tranh thế giới, năm nào đoàn cán bộ 559, gồm tư lệnh, Chính ủy và các cán bộ chủ chốt đầu ngành từ vận tải, bộ binh, công binh, phòng không cao xạ, thông tin, hậu cần... cũng được gọi ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới. Đặc biệt Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn dành thời gian trực tiếp chỉ đạo cơ quan Bộ làm việc với Đoàn và cá nhân Đại tướng thường có những buổi làm việc riêng với tư lệnh và Chính uỷ Đoàn.
Tuy nhiên không ít năm, Đại tướng đã trực tiếp gặp gỡ và động viên cả đoàn mà tôi cũng có may mắn được tham dự. Đặc biệt khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng cơ bản đường Đông Trường Sơn từ Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đến Chơn Thành, Lộc Ninh, Tây Ninh nhằm chuẩn bị cho chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Mặc dù đang an dưỡng tại Đồ Sơn, Đại tướng đã triệu tập cả đoàn cán bộ 559 do Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên dẫn đầu xuống Đồ Sơn làm việc và kết thúc bằng một buổi chiêu đãi lịch sử khiến ai được dự đều không thể quên.
Chính những tình cảm sâu đậm với đường Hồ Chí Minh, với bộ đội Trường Sơn mà ngay sau khi Hiệp định Paris vừa có hiệu lực, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với cương vị uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã về dự Đại hội tổng kết của bộ đội Trường Sơn được tổ chức vào đầu tháng 3 năm 1973 ngay trên đất Quảng Bình. Đây là lần thứ 3 Đại tướng tới dự hội nghị tổng kết của bộ đội Trường Sơn.
Rồi ngay sau khi hội nghị tổng kết và đại hội mừng công vừa kết thúc, Đại tướng đã cùng Chính uỷ Đặng Tính và Tư lênh Đồng Sĩ Nguyên đi thị sát chiến trường Trường Sơn. Đại tướng đã dừng lại nghiên cứu các trọng điểm địch đánh phá ác liệt trước đây. Tiêu biểu là trọng điểm Lùm Bùm, Ka Tốc, Chả Là, đặc biệt là cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A, ngầm Ta Lê đèo Phu La Nhích) trên đường 20 Quyết Thắng. Hôm ấy công binh vừa bắc cầu phao qua Ta Lê vì nước sông còn lớn, Đại tướng đã bước xuống cầu phao, khoả tay vào dòng nước sông Ta Lê đã qua mấy ngàn ngày, suốt từ năm 1966 đến năm 1972, chịu đựng đủ loại bom đạn Mỹ ném xuống với đủ loại máy bay cường kích phản lực, B52 của không quân Mỹ, mà ngầm Ta Lê vẫn hiên ngang tồn tại cùng với cua Chữ A, đèo Phu La Nhích bảo đảm cho xe ta ngày đêm đưa hàng vào chiến trường. Có lẽ vì những chiến công hiên hách của lực lượng công binh ở cụm trọng điểm ATP này mà Đại tướng đã dừng lại cả buổi và đêm đó bên ngầm Ta Lê, Đại tá Nguyễn Việt Phương, một cán bộ lão thành năm xưa là Chỉ huy trưởng Sư đoàn 571 binh chủng hợp thành đã có vinh dự phục vụ Đại tướng ở khu vực này. Trong một bài ký viết vào tháng 3 năm 1999 với bút danh Khổng Phương Việt, anh Việt Phương đã cho chúng ta thấy được chuyến đi lịch sử của vị Tổng Tư lệnh huyền thoại, đặc biệt là những phân tích vừa thân tình vừa lôgíc của Đại tướng trong cuộc toạ đàm bên dòng sông Ta Lê khiến tác giả bài ký bữa đó... "cảm thấy ngợp trước những lời đánh giá và phương hướng mới của tuyến chi viện...".
Tôi rất đồng tình với những đánh giá, nhận xét của Nguyễn Việt Phương về chuyến đi lịch sử này của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp như trong bài ký của anh, đã nói trên.
Trong những năm gần đây, sau khi về hưu, tôi lại may mắn nhờ có anh bạn thân là đồng đội cũ, Đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng, nên thỉnh thoảng được phép cùng các đoàn cựu chiến binh công binh vào thăm sức khoẻ Đại tướng.
Trong nhiều cuộc gặp, Đại tướng thường hỏi thăm các cán bộ lão thành công binh đã từng có dịp gặp gỡ và làm việc với Đại tướng. Đặc biệt Đại tướng hỏi nhiều về bác Nguyễn Văn Nhạn, một lão thành công binh đã gần 90 tuổi, một kỹ sư công chính của chế độ cũ đã gia nhập quân đội trên cương vị Trưởng phòng Chính trị Văn phòng Bộ Quốc phòng đầu tiên do ông Phan Anh làm Bộ trưởng. Năm 1946 với trình độ chuyên môn về cầu đường, bác Nhạn đã chuyển về công binh và là 1 trong 2 Tiểu đoàn trưởng công binh đầu tiên (người thứ hai là bác Đinh Khang, phu quân của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình) đã tham gia các hoạt động công binh tại Hà Nội trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Bác Nguyễn Văn Nhạn cũng là một trong những cán bộ công binh đầu tiên tham gia khảo sát và xây dựng đường Trường Sơn trên cương vị Tham mưu phó Đoàn 559 phụ trách công binh.
Chắc chắn sự đóng góp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam vào quá trình hình thanh và trưởng thành của đường Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ còn nhiều hơn những điều tôi vừa kể trên. Nhưng chỉ với bấy nhiêu điều mà tôi thu lượm được cũng đã nói lên những cống hiến của "Anh Văn" với đường Hồ Chí Minh lịch sử trong những năm đánh Mỹ và thắng Mỹ trên Trường Sơn. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Ký ức công binh Trường Sơn« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2023, 07:42:50 am » | HỒI ỨC TRƯỜNG SƠN Đại tá Đặng Hương
Đó lẽ kẻ thù đáng sợ nhất trên Trường Sơn chính là mùa mưa dai dẳng, liên miên, mưa đến thối đất, thối trời suốt từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và có thể dài hơn.
Với lượng mưa lớn đến mức mọi con sông, suối đều trở thành những dòng thác hung dữ thì giao thông vận tải đành phải bó tay và việc chi viện cho các chiến trường hết sức khó khăn, phải tranh thủ từng ngày từng giờ mưa rút, tạnh ráo.
Nhưng mỗi khi mưa vừa dứt, có chút nắng hửng lên thì máy bay thám thính của Mỹ lại vè vè trên bầu trời Trường Sơn, ngó nghiêng tìm kiếm những sơ hở của chúng ta để chỉ điểm cho lũ máy bay cường kích đến đánh phá.
Khi mùa khô tới, đường sá được sửa chữa, khôi phục để phục vụ các chiến dịch vận chuyển lớn thì cũng là lúc không quân địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, vừa đánh ngăn chặn trên các trọng điểm, vừa đuổi đánh theo các đội hình xe trên đường.
Qua con số thống kê của cơ quan tác chiến mặt trận Trường Sơn ngày đó, chắc chắn là chưa đầy đủ thì trong mùa khô năm 1965-1966, địch mới chỉ huy động không đến 12 ngàn lượt/chiếc máy bay đánh phá đường Trường Sơn cả ngày lẫn đêm, nhưng đến mùa khô năm 1968-1969, địch đã dùng tới gần 170 ngàn lượt/chiếc máy bay, có nghĩa là tăng gần 15 lần.
Tiếp đến mùa khô năm 1969-1970, trong số gần 150 ngàn lượt/chiếc máy bay Mỹ đánh phá dọc Trường Sơn đã có gần 5 ngàn lượt/chiếc máy bay B52. Cao điểm nhất là mùa khô năm 1970-1971, trong số 126.643 lượt/chiếc máy bay Mỹ bắn phá đường Trường Sơn, đã có tới 9.810 lượt/máy bay B52.
Và tổng số bom dạn của Mỹ ném xuống Trường Sơn, dù chưa thống kê hết cũng đã cho ta những con số khủng khiêp: hơn 7,5 triệu quả bom phá nổ, gần 45 ngàn quả bom từ trường, hơn 22 ngàn quả bom nổ chậm, hơn 17 ngàn quả bom cháy, gần 70 ngàn quả bom bi và gần nửa triệu loạt đạn rốc két. Tính trung bình mỗi năm 1 ki lô mét đường Trường Sơn phải chịu gần 5 nghìn quả bom và loạt đạn rốc két, cũng có nghĩa là mỗi mét dài đường Trường Sơn phải hứng chịu 5 trái bom và loạt dạn rốc két trong một năm.
Với những ai chưa trải qua chiến tranh thì những con số trên có thể chỉ là những con số thống kê tham khảo, nhưng với những người đã từng chiến đấu trên Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ, hoặc chỉ một lần đã đi qua Trường Sơn trong những năm chiến tranh ác liệt nhất, hẳn không bao giờ quên được những quang cảnh tàn phá, chết chóc suốt dọc tuyến đường dài hàng ngàn ki lô mét.
Ta thử hình dung vào cuối năm 1966, khi địch mới chỉ bắt đầu đánh phá tuyến đường 20, một tuyến đường ngang vào chiến trường bắt đầu từ Phong Nha - Bố Trạch - Quảng Bình, thì hai bên bờ sông Ta lê, cách Phong Nha chưa đầy 80 ki lô mét còn xanh um những tán rừng săng lẻ, có cây gốc vài người ôm, thân trắng xoá tựa cây bạch dương của nước Nga xa xôi. Thế mà chỉ hai năm sau, năm 1969, những cánh rừng săng le bạt ngàn trên cụm trọng điểm ATP (cua Chữ A - ngầm Ta Lê - đèo Phu La Nhích) gần như đã biến mất, chỉ còn lại những gốc cây tướp túa, đen sạm bị bom Mỹ đánh bật khỏi mặt đất và những hố bom nối tiếp hố bom nham nhỏ, loang lổ...
Tháng 3 năm 1969, trên đường từ A sầu - A Lưới, Thừa Thiên Huế trở về sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tôi ngồi trong ca bin một chiếc xe vận tải vượt qua ngã ba La Hạp, một ngã ba nổi tiếng bởi sự đánh phá ác liệt của địch, mà như đi giữa biển lửa, vì những cánh rừng còn lại hai bên đường đang rừng rực bốc cháy do bom napan của Mỹ vừa mới ném xuống.
Suốt các tuyến đường ngang, dọc Trường Sơn còn biết bao trọng điểm khác đã bị kẻ thù tập trung đánh phá ác liệt. Thế mà cuộc chiến đấu của bộ đội Trường Sơn đã kéo dài tới 16 năm liền, từ năm 1959 đến năm 1975.
Những năm đầu rất gian khổ, nhưng âm thầm, lặng lẽ bởi phương thức vận chuyển còn là gùi, thồ với khẩu hiệu “Đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành tiếng”. Từ năm 1965 trở đi, đã chuyển mạnh sang vận chuyển bằng cơ giới với lực lượng xe ô tô vận tải ngày càng lớn, với nhiều tuyến đường mới được mở và có cả một tuyến đường ống dẫn xăng dầu thì cuộc chiến giữa ta và địch ngày càng trở nên ác liệt, một mất, một còn...
Nhưng cuối cùng thì đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh lịch sử trong chiến tranh chống Mỹ, đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình đảm bảo cho các chiếc trường ngày càng đánh lớn, dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 kết thúc vào ngày 30 thang 4 năm ấy. |
|
|