Bài viết

Ký ức của bác Phạm Văn Hạnh

Hải Phòng17/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“NGỌN ĐỒI KHÔNG TÊN Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM”

(Ký ức của bác Phạm Văn Hạnh, sinh năm 1955, quê tại tổ dân phố số 6, phường Tân Hưng, thành phố Hải Phòng - nguyên Chiến sĩ Sư đoàn 5, Quân khu 7, chiến đấu tại Campuchia, 1978 - 1979)

Cuối năm 1978, chiến trường biên giới Tây Nam đỏ lửa. Quân Pôn Pốt điên cuồng tàn phá, giết hại dân lành cả hai bên biên giới. Trên những cánh đồng khô cháy và rừng thốt nốt xác xơ, bom đạn gào rú suốt ngày đêm. Đơn vị của bác Phạm Văn Hạnh - Đại đội trinh sát, Sư đoàn 5 - được lệnh chiếm giữ một điểm cao trọc, không có tên trên bản đồ, chỉ ghi vỏn vẹn: “Đồi số 47”.

Bác kể: “Ba ngày đầu chúng tôi đào công sự trong mưa pháo. Đất nổ tung như sấm, mùi thuốc súng, mùi khét của lá rừng, mùi mồ hôi người lính hòa vào nhau. Anh em cởi áo quấn vết thương cho nhau, cơm vắt chỉ còn nắm nhỏ, nhưng vẫn hát để át tiếng pháo.”

Đêm xuống, gió từ đồng bằng thổi lên mang theo mùi khói và tiếng kêu thảm thiết của người dân bên kia biên giới. Ai nấy trong lòng nặng trĩu. Nhưng cũng chính trong đêm ấy, một câu chuyện làm ấm cả ngọn đồi.

Khoảng nửa đêm, trong ánh trăng nhợt nhạt, bác Hạnh phát hiện vài bóng người thấp thoáng dưới chân đồi. Khi lại gần, đó là bảy đứa trẻ Campuchia gầy gò, quần áo tả tơi, đôi mắt hoảng loạn. Chúng trốn chạy khỏi bọn tàn quân Pôn Pốt, lạc giữa rừng, đói lả mấy ngày liền. Không ai bảo ai, các chiến sĩ Việt Nam bẻ đôi nắm cơm nắm, rót từng ngụm nước suối chia cho các em. Khẩu phần vốn ít ỏi nay còn lại một nửa, nhưng không ai thấy tiếc.

“Lúc ấy nhìn những đôi mắt trẻ con, chúng tôi thấy lại quê hương mình - thấy mẹ, thấy em, thấy mái nhà yên bình mà chúng tôi đang chiến đấu để giữ lấy,” bác Hạnh kể, giọng lặng đi.

Sáng hôm sau, khi mặt trời chưa kịp lên, địch bất ngờ mở đợt tấn công. Pháo, cối, súng máy dội xuống dồn dập, khói mù đặc quánh. Tiếng nổ chát chúa, đất đá tung lên như mưa. Nhiều đồng đội của bác ngã xuống, máu nhuộm đỏ sườn đồi.
Bác Hạnh bị thương ở chân, máu chảy ròng ròng nhưng vẫn gượng đứng, nắm chặt lá cờ của đơn vị. Trong giây phút sinh tử, bác lao thẳng lên đỉnh đồi, giữa tiếng hò xung phong vang dội. Anh cắm lá cờ xuống đất bằng chính báng súng gãy - máu từ tay chảy ướt cả cán cờ. Lá cờ phần phật bay trong khói lửa, như ngọn lửa thiêng kêu gọi toàn đơn vị giữ vững trận địa.

Trận đánh kéo dài đến trưa. Khi tiếng súng im, mặt trời đứng bóng. Ngọn đồi đầy khói đen và mùi thuốc súng. Hơn nửa đơn vị nằm lại. Nhưng lá cờ vẫn tung bay. Đồng đội ôm lấy bác Hạnh, mắt ai cũng đỏ hoe. Từ đó, ngọn đồi không tên ấy được gọi là “Đồi Hạnh” - không chỉ để nhớ một người, mà để tạc ghi tinh thần bất khuất, nhân hậu và quả cảm của cả một thế hệ người lính Việt Nam.

“Tôi không nhớ mình bắn bao nhiêu viên đạn,” bác Hạnh nói, “chỉ nhớ có bảy đứa trẻ được cứu sống, và trong ánh mắt các em, tôi thấy hòa bình đang đến.”

Bây giờ, bác Hạnh trở về quê, mái tóc bạc trắng, mỗi chiều vẫn đạp xe đến trụ sở Hội Cựu chiến binh phường Tân Hưng. Trong mỗi buổi sinh hoạt, khi lớp trẻ hỏi chuyện chiến trường xưa, bác chỉ cười hiền: “Chúng tôi đi qua chiến tranh, không để kể công. Chỉ mong các con, các cháu hiểu rằng, hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có - đó là máu, là nước mắt, là tuổi xuân của bao người đã ngã xuống.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Ký ức của bác Phạm Văn Hạnh | Câu chuyện thời hoa lửa