Ký ức người lính Nguyễn Dương Lễ Trung đoàn Trưởng trung đoàn 68 tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh
Tháng 3 năm 1975, trong khí thế sục sôi của chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 3 nhận mệnh lệnh tiến công quận Phú Phong, đồng thời giao cho Trung đoàn 68 nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: đưa hai khẩu pháo 105 ly lên cao điểm 1000 thuộc núi Ông Bình để trực tiếp chi viện cho Sư đoàn đánh chiếm và giải phóng thị xã An Khê.
Nhận nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 68 ai cũng phấn khởi, quyết tâm cao. Tuy nhiên, càng nghiên cứu thực địa, chúng tôi càng thấy rõ đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, gian nan. Trước mắt là con sông Cô rộng khoảng 30 mét, nước sâu chỉ hơn 1 mét nhưng ngập hết bánh xe pháo, khiến pháo không thể cơ động. Phương tiện vượt sông hoàn toàn không có, không phà, không cầu.
Trước tình thế đó, Ban Chỉ huy và Thường vụ Trung đoàn 18 đã họp bàn, quyết định tận dụng các cây nứa trong rừng và những thùng xăng địch bỏ lại để kết bè, làm phà, từng bước đưa pháo vượt sông an toàn.
Sau khi vượt sông, khó khăn còn chồng chất hơn. Qua trinh sát, chúng tôi nhận thấy địa hình từ chân núi lên cao điểm 1000 là những dãy núi nối tiếp nhau, dốc xuống rồi lại dựng đứng lên. Trung đoàn đã đề nghị sự giúp đỡ của lực lượng Công binh Quân khu V và dân quân huyện Phú Phong. Hơn 1.000 người đã tham gia mở gần 3,2 km đường rừng để đưa pháo lên trận địa theo đúng mệnh lệnh của Sư đoàn, phục vụ cho trận đánh quyết định giải phóng An Khê ngày 26/3/1975.
Trong quá trình mở đường, mọi việc đều phải tiến hành bí mật tuyệt đối. Mở xong đoạn nào, ngụy trang đoạn đó. Chỉ cần sơ suất để địch phát hiện ý đồ chiến dịch, hậu quả sẽ khôn lường.
Khi con đường hoàn thành, Trung đoàn 68 bắt đầu kéo pháo. Mỗi khẩu pháo nặng hơn 1,1 tấn, cần từ 100 đến 150 cán bộ, chiến sĩ hợp sức kéo. Hai khẩu pháo là gần 300 người, nhích từng bước, từng mét trên quãng đường hơn 3 km suốt ba ngày đêm liên tục. Cuối cùng, toàn bộ vũ khí được đưa lên an toàn chiếm lĩnh trận địa.
Việc sử dụng pháo binh bắn ngắm trực tiếp từ cao điểm 1000 là một quyết tâm rất lớn của Quân khu và Sư đoàn. Phương pháp này phát huy hỏa lực mạnh nhất, uy hiếp trực tiếp đội hình địch, gây hoang mang, tê liệt tinh thần đối phương. Đối với pháo binh chúng tôi, đó vừa là vinh dự, vừa là nhiệm vụ hết sức nặng nề.
Ngày 26/3/1975, bước vào ngày chiến đấu đầu tiên, pháo binh Trung đoàn 68 thực hành bắn trực tiếp. Khác với bắn gián tiếp phải chỉnh sửa nhiều lần, bắn trực tiếp chỉ cần hiệu chỉnh phát đầu, những phát sau gần như trúng đích. Ngay trong ngày đầu, toàn bộ các mục tiêu quan trọng trong thị xã An Khê do địch chiếm đóng đã bị tiêu diệt chính xác.
Suốt từ trưa ngày 26 đến hết ngày 27/3/1975, pháo binh Trung đoàn 68 đã chi viện đắc lực cho các mũi tiến công. Thị xã An Khê hoàn toàn được giải phóng. Ta thu được 8 khẩu pháo của địch, gồm 2 khẩu 155 ly và 6 khẩu 105 ly.
Theo lệnh Quân khu và Sư đoàn, Trung đoàn 68 tiếp nhận toàn bộ số pháo, đạn thu được, tổ chức biên chế lại lực lượng. Không khí trong Trung đoàn lúc đó vô cùng phấn khởi. Đơn vị được tăng cường thêm một tiểu đoàn pháo binh, nhanh chóng củng cố trang bị, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
Sau An Khê, Trung đoàn 68 theo đội hình Sư đoàn tiếp tục hành quân giải phóng Quy Nhơn, rồi tiến sâu theo trục đường vào Sài Gòn. Với tư thế của một trung đoàn pháo binh được trang bị đầy đủ, chúng tôi tham gia chiến đấu ở Thạch Sơn, sân bay Thạch Sơn, Ninh Thuận, tiến vào Vũng Tàu – Bà Rịa.
Đến 14 giờ ngày 30/4/1975, Vũng Tàu hoàn toàn được giải phóng, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Chiến công kéo pháo lên cao điểm 1000 năm ấy mãi là ký ức không thể nào quên trong cuộc đời người lính pháo binh chúng tôi.


