KÝ ỨC NGƯỜI THƯƠNG BINH
Ông Phạm Văn Bình, sinh năm 1950, quê quán xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm nay đã bước sang tuổi 75, cơ thể không còn lành lặn như xưa
Ông Phạm Văn Bình, sinh năm 1950, quê quán xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm nay đã bước sang tuổi 75, cơ thể không còn lành lặn như xưa, chân trái mang thương tật chiến tranh, nhưng ký ức về những năm tháng kháng chiến thì chưa một ngày phai nhạt.
Năm 1969, khi vừa tròn 19 tuổi, tôi tình nguyện viết đơn nhập ngũ, rời quê hương đồng bằng Bắc Bộ để lên đường ra trận. Ngày tiễn tôi đi, cha chỉ lặng lẽ đặt vào tay tôi chiếc khăn mùi soa đã sờn mép, còn mẹ thì quay mặt đi, giấu nước mắt sau vành nón lá. Tôi hiểu, đất nước đang cần những người con trai trẻ như chúng tôi.
Sau hơn ba tháng huấn luyện tại Trung đoàn 88 đóng quân ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, tôi được biên chế vào đơn vị bộ binh, hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày tháng ấy, chúng tôi sống giữa rừng sâu, ăn cơm độn sắn, uống nước suối, đêm ngủ võng, ngày tránh bom. Mỗi lần máy bay địch gầm rú trên đầu, cả rừng núi rung chuyển như muốn đổ sập.
Trong đơn vị, tôi thân nhất với anh Nguyễn Văn Cường, sinh năm 1948, quê xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Anh Cường là tiểu đội trưởng, người luôn đi sau cùng để đảm bảo anh em không ai bị bỏ lại. Trong trận đánh tại thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi đơn vị bị pháo kích dữ dội, anh Cường đã hy sinh khi tìm cách kéo tôi ra khỏi hố bom.
Chính trong trận đánh đó, tôi bị mảnh pháo găm vào chân trái, mất nhiều máu và bất tỉnh. Khi tỉnh lại, tôi đang nằm trong trạm quân y dã chiến ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Vết thương khiến tôi mất đi một phần sức khỏe vĩnh viễn. Sau điều trị, tôi được giám định là thương binh hạng 2/4.
Năm 1973, dù chưa bình phục hoàn toàn, tôi vẫn xin ở lại đơn vị làm công tác hậu cần và tải thương, tiếp tục phục vụ chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên, chủ yếu ở huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum. Ở đó, tôi quen chị Trần Thị Mai, sinh năm 1953, quê xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng – một y tá quân y nhỏ bé nhưng gan dạ, ngày đêm băng rừng cứu thương cho bộ đội. Hình ảnh chị Mai cõng thương binh dưới mưa bom đến giờ tôi vẫn không thể quên.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội thêm hai năm, rồi xuất ngũ năm 1977, trở về quê hương Hưng Yên với chiếc chân không còn lành lặn. Những ngày đầu, cuộc sống vô cùng khó khăn, nhưng tôi luôn tự nhủ: mình may mắn hơn nhiều đồng đội đã mãi mãi nằm lại chiến trường.
Giờ đây, mỗi khi nhìn thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình, tôi lại thấy những hy sinh của một thời tuổi trẻ là xứng đáng. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để nhắc về nỗi đau, mà để nhắc rằng:
hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, xương và cả một phần thân thể của biết bao người lính trên khắp mọi miền đất nước.



