Anh hùng Lực lượng vũ trang

Kỷ vật của người Anh hùng cắm cờ lên nóc Dinh Độc Lập

Gần một nửa thế kỷ đã trôi qua từ thời khắc 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975 khi Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 cắm lá cờ giải phóng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lên trên nóc Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn. Nhưng đối với những người làm công tác Bảo tàng, mỗi lần giới thiệu với khách tham quan câu chuyện lịch sử của mùa Xuân đại thắng năm 1975, hình ảnh về sự kiện ấy vẫn luôn sống động, hiện hữu qua từng kỷ vật.

Hưng Yên27/09/2026Phường An Cựu (Đoàn phường An Cựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Kỷ vật của người Anh hùng cắm cờ lên nóc Dinh Độc Lập

Gần một nửa thế kỷ đã trôi qua từ thời khắc 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975 khi Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 cắm lá cờ giải phóng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam lên trên nóc Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn. Nhưng đối với những người làm công tác Bảo tàng, mỗi lần giới thiệu với khách tham quan câu chuyện lịch sử của mùa Xuân đại thắng năm 1975, hình ảnh về sự kiện ấy vẫn luôn sống động, hiện hữu qua từng kỷ vật.

Lá Cờ Giải phóng do Trung úy Bùi Quang Thận cắm lên nóc Dinh Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn, trưa ngày 30/4/1975

Được trưng bày tại vị trí trang trọng của phòng trưng bày “Bộ đội Tăng thiết giáp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975”, lá Cờ Giải phóng cắm trên Xe tăng 843 có số đăng ký 128 và chiếc Mũ xe tăng có số đăng ký 124 là những kỷ vật đặc biệt của của Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, người đã vinh dự đại diện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, cắm lá cờ cách mạng lên nóc Dinh phủ Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn, báo hiệu giờ phút sụp đổ của chế độ cũ.

Mũ xe tăng của Trung úy Bùi Quang Thận sử dụng ngày 30/4/1975.

Theo dòng lịch sử, cuối năm 1974, đầu năm 1975, thời cơ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã đến, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Cùng với quân và dân cả nước, Bộ đội Tăng thiết giáp đã có sự chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng tham gia chiến đấu. Với vai trò là lực lượng đột kích quan trọng, Bộ đội Tăng thiết giáp tham gia cả 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 trao lá Cờ Giải phóng cho đồng chí Bùi Quang Thận- Đại đội trưởng Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203, trước khi đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975

Bộ đội Tăng thiết giáp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh với 398 xe tăng, thiết giáp các loại, tham gia chiến đấu trên cả 5 hướng tiến công vào Sài Gòn, đánh chiếm 5 mục tiêu lớn trong thành phố gồm: Bộ Tổng tham mưu, Dinh Tổng thống, Tổng nha Cảnh sát, Biệt khu Thủ đô, Sân bay Tân Sơn Nhất và các mục tiêu khác. Sau khi nhận lệnh thần tốc hành quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Bùi Quang Thận được biên chế vào Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng 203 nằm trong đội hình chiến đấu của Quân đoàn 2 với nhiệm vụ đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn.

Theo kế hoạch tác chiến, ngày 26/4/1975, Đại đội tăng 4 nhận chỉ thị “mở cánh cửa thép” phía Đông Bắc Sài Gòn, trong đó có nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Nước Trong. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã chỉ huy đơn vị chiến đấu anh dũng, dùng pháo tiêu diệt nhiều xe tăng và ổ đề kháng của địch, đập tan tuyến phòng thủ của địch ở phía Bắc Sài Gòn, cùng đội hình thọc sâu của Lữ đoàn tăng 203 tiến công vào nội đô.

Đến 8 giờ sáng ngày 30/4, khi lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở cầu Rạch Chiếc và cầu Sài Gòn, phát triển tiến công về phía cầu Thị Nghè thì gặp phản công quyết liệt từ tốp xe tăng địch. Trong tình thế nguy cấp, Bùi Quang Thận lập tức cho xe 843 vượt lên, bắn cháy liền một lúc cả hai xe M-41 và M-113 của địch, đồng chí Vũ Đăng Toàn, chính trị viên Đại đội 4 trên chiếc tăng 390 đã chỉ huy bắn cháy tiếp 2 xe M-113 của địch. Từ lúc ấy, tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch hoàn toàn tan vỡ.

Được sự giúp đỡ, chỉ dẫn của nhân dân và biệt động thành, Lữ đoàn tăng 203 đã chia làm 2 mũi, hướng theo Đại lộ Thống Nhất và hướng đường Hồng Thập Tự, tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Lúc 10 giờ 15 phút, chiếc xe tăng 843 của đồng chí Bùi Quang Thận dẫn đầu đã vượt qua các ổ đề kháng của địch, vượt qua khu Nhà Xanh xông thẳng vào Dinh Độc lập, xe 843 chốt cổng phụ, xe 390 húc tung cánh cổng chính tiến thẳng vào sân Dinh.

Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe 843, lấy lá cờ giải phóng trên xe của mình cắm lên cột cờ trên nóc Dinh Độc lập lúc 11h30 ngày 30/4/1975, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Xe tăng 843 chốt cổng phụ, xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn, đồng chí Bùi quang Thận, trưởng xe 843, Đại đội trưởng Đại đội tăng 4 cầm lá cờ Giải phóng chạy vào cắm cờ.

Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cùng các chiến sỹ Giải phóng quân tiến vào cắm cờ trên nóc Dinh Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn, trưa ngày 30/4/1975.

Các nhà báo nước ngoài có mặt tại Dinh tổng thống phỏng vấn đồng chí Bùi Quang Thận- người cắm cờ trên nóc Dinh Độc lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975

Sau ngày giải phóng, Đại đội tăng 4 của đồng chí Bùi Quang Thận nhận lệnh điều động về tập kết, củng cố, huấn luyện tại Tổng kho Long Bình. Lúc này, Binh chủng Thiết giáp đã kịp thời cử một đoàn cán bộ chính trị vào tiếp cận với đơn vị và sưu tầm hiện vật gắn với chiến công của Lữ đoàn xe tăng 203. Trong số những hiện vật được đồng chí Bùi Văn Tùng, Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 bàn giao cho Binh chủng vào ngày 25/8/1976 có lá Cờ Giải phóng cắm trên nóc Dinh Độc Lập và chiếc Mũ xe tăng của đồng chí Bùi Quang Thận.

Lá cờ đồng chí Bùi Quang Thận cắm trên nóc Dinh Độc Lập trưa ngày 30/04/1975 là lá Cờ Giải phóng, có kích thước 70cm x 90cm, được may bằng loại vải phin thông thường. Đó chính là lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Cờ Giải phóng được sử dụng từ năm 1960 đến năm 1975. Đây là lá cờ lấy khuôn mẫu của quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lá cờ có hình ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ và xanh dương. Nửa phần trên màu đỏ đại diện cho miền Bắc đã độc lập, nửa phần dưới màu xanh dương tượng trưng cho miền Nam đang đấu tranh cho khát vọng hòa bình, thống nhất.

Chiếc Mũ xe tăng của Bùi Quang Thận là Mũ công tác của thành viên kíp xe tăng, chiếc mũ được may bằng vải đen, đã bạc màu, bên trong có đệm chất xốp, trong tai bên phải có ghi dòng chữ đã mờ “Trưởng xe 843”.

Đồng chí Bùi Quang Thận sinh năm 1948 tại quê hương Thuỵ Hải, Thái Thuỵ, Thái Bình. Năm 1966, theo tiếng gọi của tiền tuyến, Bùi Quang Thận xung phong nhập ngũ vào đơn vị xe tăng. Qua quá trình học tập, phấn đấu, đồng chí đã trở thành người cán bộ ưu tú thuộc thế hệ đầu tiên của Lữ đoàn xe tăng 203. Lần lượt trải qua các cương vị: Trưởng xe, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Phó Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng, Chủ nhiệm Tăng thiết giáp Quân đoàn 2. Năm 2000, đồng chí nghỉ công tác, về sống tại quê nhà. Năm 2012, đồng chí mất vì bạo bệnh.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và công tác, đồng chí Bùi Quang Thận đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác, đặc biệt đồng chí được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lá cờ Giải phóng cùng chiếc Mũ xe tăng của Anh hùng Bùi Quang Thận hiện nay đã trở thành một trong số những hiện vật tiêu biểu của Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp. Câu chuyện về người Đại đội trưởng Đại đội tăng 4 cắm lá Cờ Giải phóng lên nóc Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 sẽ luôn được nhắc mãi, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác theo chiều dài lịch sử đấu tranh vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn