La Thị Tám (1)
La Thị Tám sinh năm 1949 tại xã Vĩnh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Lớn lên trên mảnh đất ngày ngày oằn mình trước bom đạn kẻ thù, trong bà sớm hình thành lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ. Năm 1967, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, bà nghỉ học và tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, thuộc Đại đội C2 – Giao thông vận tải, làm nhiệm vụ tại Ngã ba Đồng Lộc – nơi được mệnh danh là “tọa độ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
LA THỊ TÁM
Trong lời bài hát “Người con gái sông La” của nhạc sĩ Doãn Nho, những câu ca tha thiết đã khắc họa hình ảnh một cô gái tuổi mười tám anh dũng:
“Ơi… em vừa mười tám, tròn, đẹp như Xuân sang,
em người chiến thắng sức mạnh bạo tàn,
đạp trên cái chết, dáng em hiên ngang…
em là trời biếc của mùa Xuân Việt Nam.”
Đó chính là những vần thơ, giai điệu mà tác giả dành tặng cho nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – La Thị Tám.
La Thị Tám sinh năm 1949 tại xã Vĩnh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Lớn lên trên mảnh đất ngày ngày oằn mình trước bom đạn kẻ thù, trong bà sớm hình thành lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ. Năm 1967, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, bà nghỉ học và tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, thuộc Đại đội C2 – Giao thông vận tải, làm nhiệm vụ tại Ngã ba Đồng Lộc – nơi được mệnh danh là “tọa độ lửa”.
Trong 240 ngày đêm ác liệt (từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1968), không quân Mỹ đã trút xuống đây hơn 48.600 quả bom. Giữa mưa bom bão đạn ấy, một cô gái tuổi mười tám nhỏ bé lại đảm nhận nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm - đứng trên đỉnh đồi cao quan sát, đếm số lượng bom rơi và xác định những quả chưa nổ để cắm tiêu báo cho lực lượng công binh xử lý. Bà từng nhớ lại: “Nhiệm vụ của tôi là đứng trên quả đồi cao phía trái ngã ba Đồng Lộc khi máy bay địch ném bom, dùng ống nhòm quan sát để đếm, xác định số bom đã rơi. Quả nào chưa nổ thì chạy xuống cắm cọc tiêu báo cho lực lượng công binh rà phá.”
Công việc ấy đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối và lòng can đảm phi thường. Ban đầu, bà chỉ dám tiến lại gần quả bom ở khoảng cách năm mét, nhưng vì yêu cầu nhiệm vụ, bà tự nhủ thà hy sinh bản thân còn hơn để đồng đội gặp nguy hiểm, rồi dần dần tiến sát hơn. Suốt hơn 200 ngày đêm, La Thị Tám đã đếm và cắm tiêu 1.205 quả bom các loại. Ngày 22/12/1969, khi mới 20 tuổi, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hình ảnh cô gái trẻ với chiếc áo dù, ống nhòm trên tay, nụ cười tinh nghịch mà kiên cường đã được ghi lại qua ống kính của nghệ sĩ nhiếp ảnh Văn Bảo. Ông từng chia sẻ rằng, giữa chiến tranh khốc liệt, vẻ đẹp của những người phụ nữ như La Thị Tám lại càng rạng ngời hơn bao giờ hết. Những bức ảnh về bà được đăng tải trên nhiều tờ báo lớn như Báo Nhân Dân, Báo Quân đội Nhân dân, Báo Tiền Phong, thậm chí xuất hiện trên báo Sự thật của Liên Xô năm 1968 và mang về giải thưởng cao quý cho tác giả. Sau chiến tranh, bà trở về quê hương, lập gia đình, công tác tại cơ quan Đảng cấp tỉnh và sống một cuộc đời giản dị, bình dị như bao người phụ nữ Việt Nam khác.
Giữa mưa bom bão đạn ở Ngã ba Đồng Lộc, La Thị Tám vẫn hiên ngang đứng trên đỉnh đồi, lặng lẽ đếm từng quả bom kẻ thù trút xuống quê hương. Đó là hình ảnh khiến em xúc động nhất khi tìm hiểu về bà – một biểu tượng của lòng dũng cảm, sự gan dạ và tinh thần yêu nước nồng nàn. Ở độ tuổi mà bao người còn đang sống trong những ước mơ tươi đẹp của thanh xuân, bà đã chọn đứng giữa chiến trường khốc liệt, đối diện với cái chết mỗi ngày để bảo vệ tuyến đường huyết mạch của Tổ quốc.
Hòa bình không phải là điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng tuổi trẻ, lòng quả cảm và sự hy sinh của biết bao người như La Thị Tám. Chính vì vậy, khi tìm hiểu về bà, em càng thêm khâm phục sự bình tĩnh và ý chí kiên cường ấy. Đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, bà vẫn đặt nhiệm vụ và sự an toàn của đồng đội lên trên hết. Tinh thần ấy không chỉ thể hiện lòng yêu nước sâu sắc mà còn trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho thế hệ trẻ hôm nay.
Là thế hệ trẻ sống trong thời bình, chúng em cần sống có trách nhiệm hơn. Mỗi người trẻ cần biết trân trọng từng ngày được sống trong hòa bình, trân trọng những điều tưởng chừng bình dị như được đến trường, được theo đuổi ước mơ và được lớn lên trong sự yêu thương. Không chỉ dừng lại ở lòng biết ơn, thế hệ trẻ còn phải biến sự biết ơn ấy thành hành động cụ thể như không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, trau dồi tri thức và bản lĩnh sống. Chỉ khi sống có lý tưởng, có trách nhiệm và nỗ lực hoàn thiện bản thân mỗi ngày mới có thể xứng đáng với những hy sinh lớn lao mà các thế hệ cha anh.


