LÁ THƯ KHÔNG KỊP GỬI
Mùa mưa năm 1968, cánh rừng Trường Sơn dày đặc bom đạn.
Tiểu đội vận tải của anh Nguyễn Văn Hòa, mới ngoài hai mươi tuổi, nhận nhiệm vụ gùi hàng vượt dốc Ba Thang trong đêm.
Con đường mòn hẹp, trơn trượt, hai bên là vực sâu hun hút.
Bom B52 rải thảm suốt nhiều ngày khiến đất đá còn nóng ran, mùi khói khét chưa tan.
Trong ba lô của anh Hòa, ngoài lương khô và đạn dược, còn có một lá thư chưa kịp gửi.
Đó là thư anh viết cho mẹ ở quê Thái Bình, hứa rằng “hết giặc con sẽ về cấy ruộng cùng mẹ”.
Mỗi lần nghỉ chân, anh lại lôi thư ra đọc, gấp cẩn thận rồi cất lại, như một cách giữ ấm cho lòng mình giữa chiến trường.
Đêm ấy, khi cả tiểu đội vừa vượt qua con suối cạn, tiếng máy bay gầm rú xé toạc bầu trời.
Bom trút xuống như mưa, rừng rung chuyển, đất đá bắn tung tóe.
Anh Hòa lao lên phía trước, dùng thân mình che cho thùng đạn vừa kịp đặt xuống hầm.
Một tiếng nổ chát chúa vang lên.
Khói bụi mù mịt.
Khi đồng đội tìm thấy anh, anh đã nằm yên, bàn tay vẫn nắm chặt quai ba lô.
Sau trận bom, tiểu đội tiếp tục hành quân.
Họ không thể mang theo thi thể anh, chỉ kịp chôn anh bên gốc cây già, đánh dấu bằng một mảnh vải dù.
Trong ba lô của anh, đồng đội tìm thấy lá thư còn dang dở, góc giấy đã nhòe vì nước mưa và mồ hôi.
Nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, lá thư ấy được một cựu chiến binh mang về quê.
Người mẹ già run run cầm tờ giấy đã ố vàng, đọc từng dòng chữ quen thuộc.
Bà không khóc thành tiếng, chỉ lặng lẽ vuốt phẳng lá thư rồi thắp nén nhang trước bàn thờ liệt sĩ.
Anh Hòa không kịp trở về cấy ruộng cùng mẹ.
Nhưng nhờ những con người như anh, những cánh đồng hôm nay xanh lúa, trẻ em được đến trường, đất nước được yên bình.
Lá thư không kịp gửi năm ấy đã trở thành chứng nhân lặng lẽ của một thời hoa lửa –
Nơi tuổi hai mươi được gửi lại giữa Trường Sơn để Tổ quốc có ngày mai.



