La Văn Cầu
húc khải hoàn ca “Vang bóng một thời”
Ngày từ khi còn đi học, chúng tôi – những đứa trẻ ngây thơ vẫn thường xuyên truyền tai nhau bài vè:
“Anh cầu ra
Gi bắn què tay
Anh ấy chặt phang ngay
Mìn anh bang
chot mỏ châu mai
Gi bốn ngã sõng soài
Anh Cầu giỏi quá
Được bác Hồ khen
Anh được báo tên
Anh hùng quân đội”…
Những lời ca trẻ thơ căn ngân vang trong trái tim tôi, thôi thúc cho tôi động lực quyết tâm học tập, lòng dũng cảm, ý chí, đề nghị năng lực vươn lên trong cuộc sống muôn đời và khó khăn.
Anh hùng La Văn Cầu – vị anh hùng được nhiều người viếng thăm, kính phục. Sự nghiệp chiến đấu của ông từng được đưa vào chương trình sách giáo khoa.
May mắn và vinh dự khi chúng tôi – nhóm phóng viên Tạp chí điện tử Hòa được đến thăm nhà Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân La Văn Cầu – người đã chặt phăng cánh tay bị thương để ôm phá lao lên thất bại châu mai của chiến đấu, mở đường cho đồng đội xông lên chiến đấu. Anh hùng La Văn Cầu là một trong bảy người được Bác Hồ trao tặng danh hiệu “Anh hùng toàn quốc”, gồm: La Văn Cầu, Trần Đại Nghĩa, Cù Chính Lan, Nguyễn Thị Chiên, Nguyễn Quốc Trị, Hoàng Hanh, Ngô Gia Khảm.
Ngôi nhà của Đại tá khiêm tốn trên một con ngõ thuộc phố Tây Sơn (phường Quang Trung, quận Đống Đa, TP. Hà Nội), dưới tán cây an lành bóng mát trong lành. Đón chúng tôi là một người lính tuy đã 89 tuổi nhưng vẫn nhanh quân, niềm nở. Ông có nước da hồng hào, điểm chấm đồi; đôi mắt sáng có thể hiển thị tường thuật. Ông bắt tay chúng tôi trong niềm đam mê hoan: “Ông đã chờ đợi các cô chú từ móng giờ rồi. Ngồi xuống nghệ ông kể về chiến tranh Đông Khe oai hùng một thời nào!”
Mời chúng tôi tách trà sen nghi ngút khói, ông La Văn Cầu kể về quảng thời tuổi trẻ với những kỷ niệm khó quên . Anh hùng La Văn Cầu sinh năm 1931, tên thật là Sầm Phúc Hướng, dân tộc Tày, quê thuộc bản Là Thoang, xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông Cầu mồ côi bố từ nhỏ, khi mới lên 3, lên 4 nên thiếu sự vắng mặt che, dạy dỗ của người cha. Khi anh ấy, người mẹ tốc tần mới chỉ 25 tuổi đã đi bước nữa để tìm cơ sở vững chắc để nuôi nấng cậu bé Phúc Hướng.
Cha dượng của ông tên Lã Văn Thanh – là một người đàn ông có sức ảnh hưởng lớn với cậu bé Phúc Hướng, hết lòng yêu thương, che đi, dạy cậu nên người. Tên Lã Văn Cầu cũng là cái tên mà sau này người chadượng đặt cho cậu bé. Tuy nhiên, về sau khá nhiều người đọc nhầm, đọc tên ông thành La Văn Cầu.
Mới 16 tuổi nhưng cậu bé tuổi thơ đã hái đăng ký tham gia chiến đấu với mục tiêu duy nhất: “Trả thù nhà, nợ nước”. Không đủ chiến đấu và là một trong gia đình, cậu bé có thể được trả về địa phương. Tuy nhiên, cậu bé La Văn Cầu với đôi mắt sáng lấp lánh, hãy quyết tâm cao độ đã khai tăng tuổi để được tham gia phản chiến. Với cậu bé ấy, yêu nước là quét sạch lũ giặc Ngoại xâm cướp nước.
Trò chuyện với ông La Văn Cầu đã gần 90 tuổi nhưng chúng tôi là ông ông trí nhớ siêu việt. Từ vị trí chiến đấu, căn cứ điểm và những kỷ niệm “ống chết” cùng đồng đội được ông kể lại trong không khí xúc động. Thi thoảng tôi lại thấy ông vấn lên lau nước mắt. Ngày xưa tôi hiểu: ông đang nhớ quê hương, nhớ những người đồng đội sát cánh “vào sinh ra tử”.
Năm 1948, khi tròn tuổi 16, ông Cầu đứng trong hàng ngũ của Đại đội 73 thuộc Tỉnh Cao Bằng. Đến năm 1949, ông là chiến sĩ chiến đấu thuộc Trung đoàn 74 thuộc Sư đoàn 316 (Quân khu 2). Trận đánh Đông Khe là trận chiến mở màn trong Chiến dịch Biên giới Thu Đông do Đông Khe có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Giữ được Đông Khe, ta nắm chắc được lợi trong tay. Vì là trận chiến quan trọng nên Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp ra trận đấu chỉ huy: “Chúng ta phải chiến đấu cho kỳ thắng, không được thua”.
Giai đoạn 1946 – 1949: Là thời gian phòng ngự, chuẩn bị mọi thứ từ nhân lực đến vũ khí, thuốc nam. Đến năm 1950, quân ta quyết định mở cuộc Tổng tiến công hùng tráng giặc phải kinh hãi. Trong trận chiến lớn nhất, đồng chí La Văn Cầu thuộc tiểu đội gồm 5 người, được giao nhiệm vụ đánh vào lỗi châu mai, lô cốt của chiến thắng.
Đạn bắn như mưa, khói bay mù mờ, cái chết cận cảnh nhưng không “chùn vai bước”. Quân ta quyết định xông lên tiêu diệt giặc, sẵn sàng hy sinh xương xương để đổi lấy nền độc lập, tư do của Tổ quốc. Và cứ thế, lần như 3 đồng chí chiến đấu cùng ông La Văn Cầu “ngã xuống”. Gạt đi giảm nước mắt, ông Cầu càng quyết tâm bão phá tới gần quân, diệt giặc để trả thù cho đồng đội.
Với người nhỏ bé, vỏn nặng 50kg, ông Cầu bom phá nặng 12kg xông lên chiến đấu, mở đường cho đồng đội tiến lên. Trong khi lao lên tiêu diệt quân địch, ông đã được sử dụng súng bắn đạn. Đạn làm ông bị bất tỉnh, mê man. "Khi ấy, tôi tưởng tôi sẽ chết, toàn cơ bắp lại. Tôi ngã xuống, mê man, không biết gì. Từng kỷ niệm thơ thiếu thời cứ hiện lên như một thước phim quay chậm. Ở đó, tôi được gặp lại cha mẹ, bạn bè, hàng khối..." – Ông La Văn Cầu bùi ngùi kể lại.

Nhớ về kỷ niệm chiến đấu, ông La Văn Cầu lại bồi hồi, xúc động.
Đến khi ông Cầu Tỉnh dậy, đất đá kín khít và mắt. Viên đạn xoẹt qua má tạo ra một bên má mất đi, tinh dầu rất để làm nhiễm trùng nhiễm trùng và cánh tay phải bị thương nặng. Sờ lên đầu và kiếm thấy không bị sao, ông nắng vàng lần tìm trái bùng nổ để tiếp tục lao lên nhưng chỉ cánh tay trái cử động được, còn cánh tay phải khi chuyển lủng bụi và vào cành cây rất đau. Lúc đó, thấy vô cùng chiến víu, ông Cầu đã quyết định Dũng cảm: Duyên đồng đội cánh cánh tay phải thương.
Khi đề xuất ý kiến đó, đồng chí Nông Văn Phiêu – Đại đội trưởng ngăn cản: “Không được đâu cậu ơi! Cậu về đi cho người khác lên thay”. Tuy nhiên, ông Cầu nhất định không chịu nghe và nài vườn đồng đội thực hiện. Nông Văn Phiêu biết không ngăn cản nổi liền đi mài thật sắc lê lê của Nhật rồi Thắt phăng cánh tay phải lủng liểng của ông Cầu, sau đó băng bó lại qua loa, sau đó ông Cầu tiếp tục chiến đấu, quyết định hoàn thành nhiệm vụ được giao của trận chiến.
Khi hồi tưởng lại những ký ức lịch sử tuổi, anh vẫn không tin nổi đó là những lời cuối cùng mà người đồng đội nhắn nhủ với mình. Ông Nông Văn Phiêu cũng hy sinh trong trận đánh đó. Ông Cầu là người duy nhất sống sót trong tiểu đội 5 người. Ông xúc động nói trong nước mắt: “Qủa thật hỏa tránh tôi chứ tôi không tránh đạn. Suốt ba tháng sau khi chặt cánh tay, đêm nào tôi cũng mơ về trận chiến đó, nhớ về giây phút Giảm đau cùng những lời khuyên cơ xa của đồng đội. Cánh tay ấy – tôi dành để lại một phần thịt, một phần cơ thể cho trận Đông Khe”.
Sau trận chiến, anh hùng La Văn Cầu vượt núi băng rừng về trạm xá. Vết thương ở tay bị ô tử nặng, tím tái. Các bác sĩ đã phải đóng chặt vai mới giữ lại mạng sống cho La Văn Cầu. Xoa xoam tay cụt của mình, ông nở nụ cười hiền hậu. Chúng tôi – thế hệ sau càng hiểu rõ hơn và trân trọng hơn những đóng góp lớn lao, đại đại của cha ông đi trước, hiểu được những mất mát để phải đánh đổi để giữ độc lập Tổ quốc.
Tấm gương sáng thế hệ sau nội soi
Với những hi sinh và đóng góp lớn trong chiến quân quân và dân ta, năm 1952, ông vinh dự được Chủ tịch nước thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân khi đang là Tiểu đội thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Được phong chức Đại tá từ năm 1985, ông được Nhà nước tặng Huân chương chương trình chiến công hạng Nhì, hạng Ba, Huân chương chiến hạng nhất. Ngoài ra, ông từng là Ủy viên Trung Giao Mặt trận Quốc gia Việt Nam.
Bức ảnh chụp khi ông Cầu vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bước ra khỏi trận chiến, trở về đời thường với thương tích làm chiến tranh. Anh hùng La Văn Cầu tập làm mọi việc bằng cánh tay trái. Ông là tấm gương sáng cho thế hệ sau noi theo về tinh thần hiệu quả cám, ý chí hiển cường, luôn giải quyết khó khăn, phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật cao và quyết tâm hoàn thành sắc nét mọi nhiệm vụ được giao.
Trở về, ông tập trung học văn hóa, chính trị và trở thành người quản lý huấn luyện viên, chuyên gia công thanh niên ở Quân khu Việt Bắc. Năm 1952, ông La Văn Cầu được tham dự Đại hội Thi đua nước toàn quốc lần thứ nhất, được Bác Hồ khen thưởng và tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.
Năm 2019, khi TP. Hà Nội tổ chức Hội nghị biểu dương tấm kính điển hình về người tốt, việc tốt, vinh danh 10 công dân Thủ đô ưu tú. Trong số 10 cá nhân được tặng thưởng Anh hùng lực vũ trang Nhân dân La Văn Cầu.
Cuộc đời Anh hùng La Văn Cầu là một khúc khúc “khải hoàn ca” vang dội, tráng lệ. Trong thời chiến, ông anh dũng chiến đấu trở về với thời bình, ông lại là một công dân ưu tú, là tấm kính sáng cho thế hệ sau.
Chia tay Anh hùng La Văn Cầu, những thơ thơ đã đi vào lịch sử "Anh Cầu ra trận/ Giặc bắn què tay/ Anh chặt phăng ngay/ Mìn anh ngòi mũi/ Bịt lỗ châu mai/ Giặc ngã sõng soài/ Anh Cầu giỏi quá/ Được Bác Hồ khen/ Anh được nêu tên/ Anh hùng quân đội”... vẫn âm vang bên tai chúng tôi như một lời nhắc nhở cần phải cảm, nghị lực và luôn đấu sống có ích cho cộng đồng và xã hội.



