Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Lê Tất Đắc - người cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng

Từng được học và đọc đủ các loại sách chữ Hán, rồi chuyển sang học tiếng Pháp... Lê Tất Đắc (1906-2000) đã sớm giác ngộ cách mạng và ý thức được sự bất công, lẽ công bằng.

Thái Nguyên21/08/2026Phường Nguyệt Viên (Phường Nguyệt Viên)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Con đường cách mạng

Chàng trai Lê Tất Đắc sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, bố “làm nghề buôn cau, quế tại miền rừng núi Thanh Hóa nhằm bắt mối liên lạc với những người yêu nước”; mẹ là con nhà phó Bảng dưới triều Nguyễn - cụ Nguyễn Đôn Tiết - một trong những thủ lĩnh của nghĩa quân Ba Đình. Hằng ngày, tận mắt chứng kiến cuộc sống bị bóc lột, áp bức của mọi người xung quanh, vì thế 22 tuổi (năm 1928), chàng trai trẻ đã tham gia Đảng Tân Việt, sau chuyển sang Đông Dương Cộng sản liên đoàn, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Đảng bộ Nghệ An. Lê Tất Đắc là một trong số những chiến sĩ cách mạng trẻ, nhưng sớm nếm mùi gian nguy. Ba lần bị địch bắt giam, 2 lần vượt ngục. Tất cả những đớn đau ấy càng hun đúc thêm ý chí cách mạng, tinh thần dũng cảm trong ông.

Sách “Những chiến sĩ cách mạng trung kiên tỉnh Thanh Hóa” (tập 1, NXB Thanh Hóa, 2010) viết rất rõ về lần vượt ngục đầu tiên của đồng chí Lê Tất Đắc: Năm 1942, Lê Tất Đắc cùng Trịnh Ngọc Điệt, Hoàng Tiến Trình, Hoàng Xung Phong đã trốn khỏi nhà lao Buôn Mê Thuột và trại tập trung Ly Hy lần lượt trở về Thanh Hóa. Đây cũng là thời điểm quân Pháp vừa tiến hành đợt khủng bố trắng, các cơ sở của Đảng bị tan vỡ, quần chúng đang thiếu bộ chỉ huy. Các đồng chí đã tìm cách liên lạc lại với nhau để bàn bạc phương pháp tổ chức củng cố phong trào. Qua đồng chí Lê Hữu Kiều, đồng chí Lê Tất Đắc gặp đồng chí Nguyễn Đình Thực (ở Lò Chum, thị xã Thanh Hóa) và tìm mọi cách liên lạc với các đồng chí khác vừa vượt ngục trở về.

Từ thực tế ấy, tháng 5/1942, tại nhà đồng chí Phan Cự Số, một cơ sở cách mạng ở làng Thượng, xã Nga Thắng đã tổ chức hội nghị thành lập “Ban liên lạc” nhằm chắp nối với các cơ sở cũ, nhất là chắp nối với Tỉnh ủy cũ (nếu còn) để tập hợp tổ chức và tập trung sự thống nhất lãnh đạo. Song, Tỉnh ủy không còn, để kịp thời chỉ đạo phong trào cách mạng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, tháng 7/1942, Hội nghị giải thể Ban Liên lạc và thành lập Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Lê Tất Đắc làm Bí thư đã thông qua một số chủ trương công tác như: “Thành lập một hình thức mặt trận lấy tên là Thanh Hóa ái quốc hội”, ra đời báo “Đuổi giặc nước”, tìm cách bắt liên lạc với Trung ương.

Tháng giêng năm 1943, đồng chí Lê Tất Đắc ra Hà Nội liên lạc với Trung ương gặp các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh để báo cáo tình hình của Thanh Hóa. Trung ương chính thức công nhận Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa và truyền đạt chủ trương của Đảng trong tình hình mới. Tháng 8/1945, nhiều huyện, xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành nổi dậy giành chính quyền. Với cương vị Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thanh Hóa, ngày 17/8/1945 đồng chí Lê Tất Đắc đã chỉ định Chủ tịch ủy ban khởi nghĩa các huyện.

Nói về Lê Tất Đắc phải khẳng định ông là người nhìn xa, trông rộng. Chuyện là sau khi quân khởi nghĩa giành chính quyền, bắt được tỉnh trưởng (hay còn gọi là tổng đốc) Nguyễn Trác - một người vốn gia nhập Tân Việt từ ngày đầu thành lập nhưng vì dễ hoang mang, dao động chỉ nhìn thấy được vai trò của các thân hào, thân sĩ... mà không nhận ra sức mạnh của công nông dưới sự dẫn đường của Việt Minh. Trong khi Nguyễn Trác lo sợ bị Việt Minh giết thì Việt Minh đã chấp nhận sự đầu hàng của ông, mời ông về tòa sứ chờ giải quyết. Dù hoàn cảnh đó song Lê Tất Đắc vẫn mời Nguyễn Trác dùng bữa, mời ông ta về nhà với vợ con "mọi việc sẽ bàn sau”. Chính tinh thần ấy đã cảm hóa được Nguyễn Trác.

Năm 1946, Chủ tịch Lê Tất Đắc lên đường nhập ngũ. Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Sao Vàng, sau đổi tên là Vệ quốc quân và nay chính là Báo Quân đội Nhân dân.

Hòa bình lập lại, ông đi học khóa 1 Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), ở lại làm Phó Hiệu trưởng, Ủy viên Ban Tuyên huấn Trung ương rồi làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Năm 1977, ông về hưu. Đến khi 94 tuổi (năm 2000), ông trở thành người thiên cổ, yên nghỉ ở nghĩa trang Mai Dịch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn