Lê Trọng Tấn (1)
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914 - 1986), bí danh Ba Long - người con ưu tú của làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, Hà Nội - chính là một biểu tượng cao cả và vĩ đại như thế. Với tên khai sinh là Lê Trọng Tố, ông bước vào cuộc trường chinh của đất nước bằng tâm thế của một trí thức yêu nước, để rồi dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ, ông đã trở thành một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất. Ông được mệnh danh là “tướng trận”, “tướng tấn công” và được cán bộ, chiến sĩ yêu mến ví ông như Nguyên soái Zhukov
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN
Trong bản trường ca lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam, có những con người mà tên tuổi đã hóa thành mây trắng, thành núi cao, lặng lẽ canh giữ giấc ngủ cho non sông. Họ đến, cháy hết mình như ngọn đuốc thiêng trong đêm trường nô lệ, dùng chính xương máu và trí tuệ làm dầu đèn để soi đường cho cả một dân tộc đi về phía tự do, rồi lại lặng lẽ hóa thân vào đất đai, sông núi khi sứ mệnh đã hoàn thành. Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914 - 1986), bí danh Ba Long - người con ưu tú của làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, Hà Nội - chính là một biểu tượng cao cả và vĩ đại như thế. Với tên khai sinh là Lê Trọng Tố, ông bước vào cuộc trường chinh của đất nước bằng tâm thế của một trí thức yêu nước, để rồi dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ, ông đã trở thành một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất. Ông được mệnh danh là “tướng trận”, “tướng tấn công” và được cán bộ, chiến sĩ yêu mến ví ông như Nguyên soái Zhukov của Quân đội Liên Xô bởi ông luôn có mặt ở những chiến trường gai góc và quyết liệt nhất.
Cuộc đời binh nghiệp của ông là một dải lụa đỏ dệt bằng những chiến công vang dội nhưng cũng thấm đẫm mồ hôi và máu xương đồng đội. Trong trận quyết chiến chiến lược tại lòng chảo Mường Thanh, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã chỉ đạo Đại đoàn 312 tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, tiến công vào Sở chỉ huy, bắt tướng De Castries cùng Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nhắc đến ông, ta như nghe thấy tiếng gầm vang của đại bác tại thung lũng Điện Biên Phủ năm 1954, nơi Đại đoàn 312 do ông chỉ huy đã kiêu hãnh cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” lên nóc hầm De Castries. Và rồi, 21 năm sau, trong hào quang chói lọi của mùa xuân năm 1975, chính ông - Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía đông - đã chỉ huy những đoàn quân thần tốc, táo bạo tiến về Sài Gòn, khép lại chương sử thấm đẫm bi thương và tràn đầy mất mát để mở ra kỷ nguyên độc lập, hạnh phúc cho dân tộc. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên. Người ta gọi ông là "Zukov của Việt Nam" bởi tầm nhìn chiến thuật và tư duy quân sự sắc sảo, nhưng trong lòng chiến sĩ, ông đơn giản là một người cha, một người anh cả luôn đau đáu với từng mạng sống của cấp dưới. Có ai biết chăng, đằng sau những mệnh lệnh thép là một trái tim đa cảm, một đôi mắt luôn nhìn xa xăm về phía những cánh đồng quê hương, nơi ông hứa sẽ trở về khi sạch bóng quân thù. Trong cuộc đời binh nghiệp lẫy lừng, Đại tướng Lê Trọng Tấn hiện lên như một vị kiến trúc sư trưởng của những chiến thắng lẫy lừng, người sở hữu bản lĩnh quân sự sắc sảo đến kinh ngạc. Giữa những giờ phút ngàn cân treo sợi tóc, khi vận mệnh dân tộc đặt cả lên đôi vai gầy, ông vẫn giữ được sự bình tĩnh lạ kỳ để soi xét thế trận từ mọi góc độ, đưa ra những quyết định xoay chuyển thế cục một cách ngoạn mục. Thế nhưng, đằng sau bộ quân phục nghiêm cẩn ấy không phải là một cỗ máy chiến tranh lạnh lẽo, mà là một trái tim đập nhịp đập của sự bao dung và trắc ẩn. Với ông, chiến tranh không phải là những con số vô hồn trên bản đồ tác chiến. Ông đau đáu với từng mạng sống của cấp dưới, nâng niu từng hơi thở của đồng đội như chính máu thịt của mình. Người ta kể rằng, ông chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chấp nhận được những cụm từ nghiệt ngã: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Bởi lẽ, dưới góc nhìn đầy tính nhân văn của một người cha, người anh, làm gì có sự hy sinh xương máu nào của người lính mà lại gọi là “không đáng kể”? Mỗi một chiến sĩ ngã xuống là một khoảng trống không thể lấp đầy trong lòng người ở lại, là một vết thương rỉ máu trong tâm hồn vị tướng già. Ông đã dành cả cuộc đời để tìm mọi cách giảm thiểu tối đa sự mất mát, vì với ông, sinh mạng của đồng chí chính là tài sản quý giá nhất của non sông.
Cảm xúc dâng trào nhất có lẽ là khi nghĩ về những ngày cuối cùng của ông. Đại tướng Lê Trọng Tấn ra đi đột ngột vào năm 1986, giữa lúc đất nước đang bắt đầu những bước chuyển mình đổi mới. Sự ra đi ấy để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng quân đội và nhân dân. Ông ra đi khi chưa kịp hưởng trọn vẹn những ngày tháng hưu trí thanh nhàn, chưa kịp nhìn thấy đất nước thay da đổi thịt từng ngày. Viết về ông, tôi thấy tim mình thắt lại trước sự giản dị khiêm nhường đến lạ kỳ của một bậc vĩ nhân. Ông sống sạch trong như suối nguồn, tận hiến đến hơi thở cuối cùng cho lý tưởng. Đã bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày thân xác ông hòa cùng với đất trời thiêng liêng của Tổ quốc, nhưng hào quang từ nhân cách và tài năng của Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn tỏa sáng như một vì sao dẫn đường, soi sáng lý tưởng của cả một dân tộc. Ông không chỉ là một huyền thoại quân sự, mà còn là một bài ca về lòng trung hiếu, một điểm tựa tinh thần cho thế hệ hôm nay soi mình và học tập. Thành kính cuối đầu trước anh linh Đại tướng Lê Trọng Tấn, ta thấy lòng mình trong trẻo hơn, để thêm biết ơn những “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”, để thêm yêu và trân trọng mảnh đất hình chữ S được đánh đổi bằng thanh xuân và máu xương của những con người vĩ đại như thế.


