Bài viết

Lê Tuấn Thành (49)

Hà Tĩnh10/05/2026Trần Vũ Thùy Linh (Thôn Thanh Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Được gặp gỡ, được nghe kể chuyện và giao lưu với hai nhân chứng trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh của 40 năm về trước trong những ngày tháng 4 khiến cho không khí kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước càng thêm ý nghĩa.Hồi ức về cuộc kháng chiến của 40 năm về trước của 2 nhân chứng, là những khó khăn gian khổ, những mất mát hi sinh, đó là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, nhưng vượt lên tất cả chính là tinh thần đồng đội, là “sức trẻ”, là hi vọng vào ngày toàn thắng, là tinh thần “phơi phới lập công cho ngày đất nước được hòa bình”.

Nhớ lại kỷ niệm trong nghiệp binh của mình Trung tướng, Anh hùng LLVT Dương Công Sửu đã kể lại một trận đánh với những trải nghiệm khó quên khi đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết.

Trận đánh diễn ra ngày 3/5/1970 khi đó lực lượng của ta đóng ở khu vực Mỏ Vẹt giáp với Campuchia. Lúc này ông giữ vai trò là Đại đội trưởng được đơn vị giao nhiệm vụ đánh 1 tiểu đoàn Ngụy ở vùng sâu, sau 2 ngày hành quân đơn vị của ông đến địa điểm. Trước khi đi vào trận đánh ông tiến hành thăm dò trận địa của địch, vượt qua 7 vòng thép gai, vào bên trong cứ 15m có 1 lô cốt cao 2m bên ngoài có hàng rào B40, 1 tiếng địch thay gác 1 lần. Ông chui qua hàng rào thì đúng lúc địch thay gác, qua 1 hàng rào khu vực là vào đến trung tâm trận địa pháo của địch thì bất ngờ địch nổ một quả mìn sáng thế là tất cả các lô cốt địch bắn xối xả. Lúc này tất cả địch đều chạy ra khỏi nhà của mình, thừa lúc đó ông chui vào bên trong và trốn ở dưới gầm giường. Một lúc sau địch quay trở về, mục đích là chờ địch đi ngủ thì sẽ chui ra, tuy nhiên mãi chúng vẫn không ngủ. Nhớ lại lúc gay cấn đó ông nói “Tôi nằm ở dưới gầm giường suốt ruột lắm, có cái đồng hồ lúc bình thường không nghe thấy gì nhưng những lúc như thế này thì 1 tiếng tích tắc cũng sợ kẻ thù nghe được”. Đợi một lúc khi địch đã ngủ ông quay trở ra an toàn. Tuy nhiên một tình huống khác cũng gay cấn không kém đó là: “khi lẻn vào, tôi mang theo một khẩu súng ngắn và một quả thủ pháo, lúc trốn ở gầm giường căng thẳng quá, quả thủ pháo rơi ra mà không biết”. Trước tình thế đó “nếu trở vào lấy quả thủ pháo thì không biết chuyện gì sẽ đến với tôi khi bị địch phát hiện?”, “nhưng nếu không lấy ra địch phát hiện có người lạ lẻn vào thì sẽ bị lộ cho cả đơn vị”. Nghĩ vậy “tôi quyết tâm trở vào và đã lấy được quả thủ pháo an toàn”. Sau khi vào xem xét trận địa pháo của địch, ngày hôm sau đơn vị ông bàn kế hoạch tác chiến, kết quả tiêu diệt được 1 xe tăng, 1 máy bay và 100 tên địch bị giết, toàn đơn vị được bảo toàn lực lượng.

Một kỷ niệm nữa khiến ông nhớ mãi đó chính là tình đồng chí, đồng đội, là tinh thần thép, là niền tin cho ngày thống nhất. Trận đánh diễn ra trên chiến trường Tây Nguyên, ông khi đó là lính tham gia đánh vào tiểu đoàn địch trên núi Chư Đăng Ya, trước trận này anh em hi sinh nhiều, ở trên trời máy bay địch vận động chiêu hồi: “các sĩ quan Bắc Việt vào đây gian khổ hãy về với chính phủ quốc gia…”. Mặc dù tinh thần của anh em lúc nào cũng khí thế, tuy nhiên nhìn thấy cảnh đồng đội từng sống bên mình ngã xuống mà không làm được gì thì ai cũng bất lực và lo lắng. Nhưng trước khi trận đánh diễn ra, đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn đã đến động viên và nói: “đánh nhau hi sinh thì có hi sinh nhưng không thể chết hết được, tôi tin trong số những người ngồi đây thế nào đến ngày thắng lợi cũng sẽ có những đồng chí huân chương chiến công đầy ngực”, nhưng không ngờ trận sau đồng chí đó hi sinh. Giọng ông chùng xuống, ông nói: đến ngày đất nước được giải phóng và những ngày sau đó tôi mới thấm thía lời nói của đồng chí chính trị viên kia.

Hình ảnh gắn liền với thắng lợi trong ngày 30/4/1975 đó chính là chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cửa Dinh độc lập, một trong những chiến sĩ trên chiếc tăng 390 ngày ấy là Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên - Pháo thủ số 1, giờ đây sau 40 năm khi kể lại cảm xúc của ông dường như còn rất mới.

Ông kể: Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đơn vị ông được lệnh phục sẵn ở tây Huế, ngày 20/3/1975 khi nghe tin quân ta đang trên đà thắng lớn ở Tây Nguyên, đơn vị ông được lệnh xuất kích, tiến theo đường Đông Nam Khe Tre đánh một số điểm như: Núi Bông, Núi Nghệ…để xuống cắt đường 1 Huế - Đà Nẵng, tiến thẳng ra giải phóng Huế. Sau đó lại được lệnh ra cửa Thuận An chặn đường rút chạy của địch.

Đêm 28/3 đơn vị ông được lệnh vượt đèo Hải Vân để cùng với các cánh quân phía Tây và trong Tam Kỳ đánh ra để giải phóng Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng lúc này Tướng Ngô Quang Trưởng cùng với 10 vạn quân với 1 sức kháng cự rất mạnh. Tuy nhiên với sự hợp sức của bộ đội xe tăng và các quân binh chủng, lực lượng du kích và nhân dân yêu nước, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn được giải phóng.

Ngày 26/4 đơn vị ông tập trung tại rừng Ông Quế của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, trên đường đi nhìn thấy trên mũ của bộ binh và các quân binh chủng khác đều có chữ “thần tốc - thần tốc hơn nữa”, với một khí thế dũng mãnh như vậy “làm cho chúng tôi đi vào cuộc chiến với tinh thần phơi phới, không nghĩ đến hi sinh gian khổ, với sức trẻ vượt lên tất cả để bảo vệ tổ quốc”.

Ngày 26/4 phát động chiến dịch Hồ Chí Minh, ông và những người đồng đội cảm thấy vô cùng phẩn phởi khi được tham gia vào chiến dịch mang tên Bác, đánh vào thành lũy cuối cùng của kẻ thù.

Ngày 29/4 đơn vị ông đánh vào căn cứ Nước Trong là một “cánh cửa thép” của phía Đông Sài Gòn. Lúc này địch có 1000 sĩ quan tăng thiết giáp được trang bị hiện đại, nên đơn vị ông đã quyết tâm đánh từ 6h sáng đến 12h cùng ngày, làm chủ hoàn toàn trận địa. Sau đó địch phản công lại, hai bên giằng co quyết liệt. Trên đường tiến quân của quân giải phóng vào Sài Gòn các trận đánh từ cầu Rạch Chiếc, cầu Đồng Nai và cầu Sài Gòn diễn ra rất ác liệt, trong các trận chiến này, vai trò của bộ đội đặc công rất to lớn, rất nhiều chiến sĩ đặc công hi sinh, số còn lại quyết tâm giữ cầu để cho đại quân tiến vào.

Để cản bước tiến của quân giải phóng, địch đã sử dụng loạt đạn từ xe tăng M48, M41, M113 bắn sang, tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên. Xung phong đi đầu tiến lên, xe tăng số 866 của đồng chí Lê Tiến Hùng vượt qua cầu Thị Nghè thì bị địch phản công, 3 đồng chí hi sinh, lúc đó xe 384 và xe 390 vượt lên đến ngã tư Hàng Xanh thấy lực lượng phản kích địch vẫn còn, pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên nhìn qua ống ngắm thấy xe tăng M113 của địch ở trong ngã tư đang ngắm DKZ vào xe tăng của mình nhưng chưa trọn vẹn góc ngắm, ngay lập tức ông đã nổ súng, đúng lúc đó ông Tập lái xe và ông Toàn hô “Nguyên… Nguyên…mục tiêu… mục tiêu” tuy nhiên lúc đó súng đã nổ tiêu diệt được 2 xe tăng M113 và nhiều DMC.

Sau đó ông cùng với đồng đội đi theo bản đồ xe buýt thành phố Sài Gòn, đi được một lúc thì gặp xe của đồng chí Bùi Quang Thận, khi đi đến dinh độc lập xe đồng chí Thận đi giữa đầu cổng thì bất ngờ rẽ trái và dừng lại ở cổng phụ, xe 390 đến húc tung cánh cổng gãy bản lề và đổ xuống.

“Lúc này anh Thận cầm cờ chạy vào bên trong, đồng chí Vũ Đăng Toàn trưởng xe 390 cầm theo khẩu AK nhảy xuống xe đi theo hỗ trợ cho đồng chí Thận, một lúc sau đồng chí Thận lên cắm cờ còn đồng chí Toàn dồn nội các Dương Văn Minh vào một phòng, lúc này ông cũng vừa lên đến và tham gia đứng gác nội các Dương Văn Minh”.

Kể về thời khắc đó ông nói: “tham gia đứng gác lúc đó còn có đồng chí Phạm Xuân Thệ và đồng chí Vũ Đăng Toàn, được một lúc đồng chí Bùi Văn Tùng đến. Nhìn thấy đồng chí Bùi Văn Tùng đến Dương Văn Minh nói: “chúng tôi đang chờ các anh đến để bàn giao”, nhưng đồng chí Bùi Văn Tùng nói: “Các anh còn gì để bàn giao, phải đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó đưa Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Mậu đến đài phát thanh đọc lời đầu hàng”. Kể xong giọng ông đầy cảm xúc, ông nói tiếp “tôi rất tự hào khi tuổi còn rất trẻ mà được chứng kiến sự sụp đổ của một chính phủ mà Mỹ đã dày công xây dựng”.

Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, ông cùng với đồng đội trên chiếc xe tăng 390 lại cùng nhau đi chiến đấu trong chiến tranh biên giới năm 1979, chiến tranh kết thúc ông cùng với đồng đội trở về với cuộc sống mưu sinh đời thường.

Đại thắng mùa xuân 1975 đã kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối. Hôm nay, những người cựu chiến binh năm ấy như Trung tướng, Anh hùng LLVT Dương Công Sửu và Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên - Pháo thủ số 1 trên chiếc xe tăng 390, là những con người may mắn khi vẫn được trở về nguyên vẹn. Trong tâm khảm của họ, ký ức về cuộc chiến đó là những ngày tháng được sống, chiến đấu bên đồng đội; được chiến đấu vì hòa bình và độc lập cho dân tộc. Và đến hôm nay, khi ngồi đây hồi tưởng về quá khứ, họ cũng không quyên rằng “để có được giây phút xe tăng 390 húc đổ dinh độc lập, giây phút cờ của quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh độc lập, ngày đất nước toàn thắng, đã có không biết bao nhiêu máu xương của đồng bào, đồng chí, đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống để chúng tôi có được vinh quang như ngày hôm nay”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn