Lê Văn Huỳnh (1949–1968) là liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ, gắn với câu chuyện bức thư gửi mẹ trước lúc hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc. và bức Thư được “gửi từ lòng đất”
Lê Văn Huỳnh là liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ, hy sinh năm 1968 tại Ngã ba Đồng Lộc. Trước khi ra trận, anh viết một bức thư gửi mẹ, bày tỏ tình cảm gia đình và quyết tâm chiến đấu vì Tổ quốc. Sau khi anh hy sinh, bức thư được tìm thấy trong di vật và được gọi là “bức thư gửi từ lòng đất”, trở thành câu chuyện xúc động về lòng yêu nước và sự hy sinh của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh.
Lê Văn Huỳnh (1949–1968) là liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ, gắn với câu chuyện bức thư gửi mẹ trước lúc hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc. và bức Thư được “gửi từ lòng đất”
“ Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
Thành Cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”
– trích “Tấc đất Thành Cổ” của Phạm Đình Ngân
Có nói quá không khi người ta ví Thành Cổ Quảng Trị năm đó như một “mùa hè đỏ lửa” , như một “ cối xay thịt người”. Không phải tự nhiên mà nơi đây lại bị gọi bằng một cái tên đáng sợ đến rợn người như thế , mùa hè năm 1972 cả một tiểu đoàn nghìn chiến sĩ chỉ còn vài người còn sống sót mà trở về ,năm ấy có một anh hùng tên Lê Văn Huỳnh đã hy sinh. Anh là sinh viên Đại học Xây dựng Hà Nội , quê ở xã Nhân Hòa , huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Là sinh viên nhưng khi tổ quốc cần anh không ngần ngại mà gác lại chiếc bút và vác lên đôi vai khẩu trúng chiến đấu . Thử hỏi anh có sợ chết hay không? Có chứ , nhưng điều mà anh lo sợ hơn hết là mất nước.
Năm 1972 , khi đấy anh mới lấy vợ được 7 ngày đã phải tạm biệt người vợ mới cưới , tạm biệt gia đình và giảng đường đại học để lên đường nhập ngũ khi 24 tuổi và đang là sinh viên năm 4 Đại học Xây dựng Hà Nội. Ngày ấy lên đường hành trang của anh chỉ có vỏn vẹn tấm thân cùng với một lòng hy sinh vì đất nước. Gia đình anh lúc ấy có ba anh chị em, anh là con út trong nhà , bố anh mất sớm trong thời chiến chỉ có người mẹ già gánh vác gia đình .
Ngày ấy anh nhập ngũ và tham gia vào một cuộc chiến tranh tàn khốc- 81 ngày đêm trấn giữ Thành Cổ Quảng Trị để lấy lợi thế trong cuộc đàm phán ở hội nghị Paris đồng thời ngăn chặn sự tái chiếm của quân đội Mỹ- Ngụy, cái cuộc chiến mà đến bây giờ nhắc lại người ta vẫn không thể nào nguôi ngoai được nững mất mát sâu sắc ấy . Năm ấy Thành Cổ được ví như “ một túi bom” mỗi mét vuông đất là một mét máu , là nỗi sợ kinh hoàng của biết bao nhiêu chiến sỹ, là nỗi ám ảnh không bao giờ vơi của những người còn sông sót trở về , là nấm mồ tập thể của hàng nghìn chiến sỹ của tiểu đoàn k3 Tam Sơn. Máu họ thấm vào đất, xương thịt của họ lẫn cùng với thuốc súng , có lẽ cái điều lớn lao nhất lúc đấy họ có thể hi vọng là anh em đồng đội còn có đứa sống sót trở về để có thể nói với cha mẹ của họ chính xác ngày mà họ hi sinh. Ngày ấy không chỉ có bom , Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa còn thả xuống bao nhiêu chất độc hóa học , hơi ngạt. Có khoảng 328 nghìn tấn bom đạn được ném xuống , mỗi người lính của chúng ta cân nặng không quá sáu mươi cân nhưng họ phải hứng chịu trung bình 300 quả bom và pháo nổ . Điều đó là quá tàn ác với một con người , những chiến sĩ không chỉ chết một lần, một ngày có những người phải chết đến bảy lần mà khi họ chết thì cơ thể của họ vẫn bị bom đạn dày xéo đến tan nát.
Trong suốt khoảng thời gian chiến đấu , anh đã nhìn thấy biết bao nhiêu đồng đội ra đi, có lẽ cũng vì thế mà trong tâm trí anh dù không muốn nhưng cũng đã lường trước được một phần nào đó về số phận của mình. Ngày 11/09/1972 , đây là ngày thứ 77 trong khoảng thời gian 81 ngày đêm ở Quảng Trị , ngày hôm đấy anh ngồi trong hầm viết một lá thư dài 10 trang gửi cho gia đình và vợ ở nhà , trong lá thư anh nhắc đến việc mình sẽ hi sinh , chắc có lẽ đây là trực giác của một người lính mách bảo nên khi viết xong là thư thì sau 3 tháng anh đã thực sự ra đi , theo cách mà anh đã nói thì là “ đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”. Trong thư gửi cho mẹ anh có viết “Con rất hiểu cuộc đời mẹ khổ đã nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song vì đất nước có chiến tranh thì mẹ hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến ngày mừng chiến thắng. Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi. Bố con đã đi xa, để lại cho mẹ biết bao khó nhọc, nay con đã đến ngày khôn lớn thì... Thôi nhé mẹ, đừng buồn coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau”. Có những lá thư được gửi từ trong lòng đất, vì họ đã hi sinh cho một cuộc đời cao cả , họ sẵn sàng mang trong mình cái tội bất hiếu để giành thân trả nợ cho đất nước.
Hình ảnh mười trang thư của Liệt sỹ Lê Văn Huỳnh được trưng bày ở Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị:
Anh cũng viết thư gửi vợ mình , một đoạn trích trong thư của anh :
“Em thương yêu !
Hàng năm cứ đến ngày này em hãy thắp vài nén hương tưởng nhớ tới anh. Còn khi em nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều cho đời tươi trẻ. Nếu có điều kiện hãy cứ đi bước nữa vì đời còn trẻ lắm...
Khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới công anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về”.
Vợ của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh là bà Đặng Thị Xơ, người phụ nữ 7 ngày làm vợ chiến sỹ , cả đời làm vợ liệt sỹ . Từ ngày tiễn chồng ra tiền tuyến bà đã sống một đời chung thủy , dù không kịp có với nhau cả một đứa con nhưng bà vẫn giữ trọn một lòng . Ngày ấy ông nói với bà : “ Anh đi chiến đấu , sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lạnh , xin em đừng hắt hủi anh em nhé.” Thế mà bà không ngờ rằng, ngay cả trở về không lành lặn bà cũng không được thấy. Gần 30 năm sau, hai người mới lại gặp nhau, khi đi mái tóc còn xanh vậy mà đến lúc trở về mái tóc bà đã nhuộm thêm màu của năm tháng còn ông thì vẫn mãi một màu tóc xanh. Trớ trêu thay , phận người phụ nữ lẽ ra phải được chồng thương yêu chiều chuộng nhưng bà chẳng có lấy khoảnh khắc đấy, suốt một đời làm dâu rồi chờ chồng bà vẫn không một lời trách than.
Người đời vẫn thường nhắc đến liệt sỹ Lê Văn Huỳnh như một lời tiên tri về cái chết của anh cũng như dự đoán về nơi yên nghỉ . Trong lá thư mà anh gửi cho gia đình có đoạn : “Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2/1/1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó…” Người ta bất ngờ về trực giác của một người chiến sỹ bởi trong cái thời mưa bom bão đạn ấy có bao giờ bạn nghĩ mình sẽ đoán trước được ngày ra đi . Đến cuối cùng sau hơn 30 năm thì anh cũng đã được gia đình đưa trở về quê nhà theo đúng lời anh căn dặn .
Tiếc cho một đời hy sinh anh dũng, tiếc cho cái tuổi trẻ mà anh mãi mãi ở lại , tiếc cho người vợ một lòng son sắt thủy chung và tiếc cho người mẹ già không được nhìn mặt con lần cuối. Chiến tranh là thế, nó lấy đi của người ta bao nhiêu máu thịt, để lại biết bao mất mát không thể nào vơi, để lại nỗi ám ảnh khôn nguôi cho người còn sống trở về. Chúng ta, những thế hệ trẻ đang được sống , được làm việc , được hạnh phúc dưới thời bình, chúng ta không hề sống ở thời chiến, không thể nào hiểu hết được những mất mát đau thương mà dân tộc đã trải qua nhưng ít nhất hãy cố gắng để hiểu rằng những gì chúng ta được hưởng thụ ngày hôm nay thì ngày xưa các anh hùng đã phải nằm xuống, con đường mà chúng ta đi là xương và máu của những người lính bất khuất. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói một câu mà tôi nghĩ rằng bất cứ một người nào đang mang trong mình dòng máu Việt đều phải ngẫm từng chữ một: “ Lịch sử được viết bằng máu ,nếu giới trẻ Việt Nam quên đi lịch sử thì chính chúng là người phải dùng máu của mình để viết lại lịch sử Dân tộc ”. Tôi đã không kìm được lòng mình khi nghe câu nói ấy, bởi vì đối với thế hệ chúng ta bây giờ, ta chỉ đang xem lịch sử đơn giản là lịch sử, nhưng nếu như lời bác Giáp nói thì lịch sử sẽ lại trở thành tương lai của chúng ta .
“ Chiến tranh không đáng sợ, chỉ sợ người trẻ quên mất đất nước! ”


