LÊ VĂN TRI CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN CAO XẠ 367
Lê Văn Tri tên thật là Lê Văn Nghi, sinh năm 1921, ở xã Hà Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật - Bí thư Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không diễn ra trong thời gian ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Ông từng là: Đại biểu Quốc hội khóa 7, ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.
| Tháng 6/1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hòa, mà thủ lĩnh là ông Huỳnh Văn Nghệ. Tháng 8/1945, cùng lực lượng của Thanh niên Tiền phong ông tham gia giành chính quyền ở Sài Gòn. Khi cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, ông quay về Quảng Bình, tham gia Giải phóng quân thuộc Chi đội Lê Trực của tỉnh (15/9/1945). Từ chiến sĩ trưởng thành lên, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 Phú Quý thuộc Giải phóng quân Quảng Bình. Năm 1946, ông là Đại đội trưởng, Chi ủy viên Đại đội 6 Ba-na Lào (Mặt trận đường 12). Năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đoàn phó, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận đường 12 trực thuộc Liên khu 4. Năm 1949, ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 274 trực thuộc Trung đoàn 18. Năm 1950, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 161 kiêm Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên. Đến năm 1952, ông giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 thuộc Đại đoàn 325 Trị Thiên, Trung đoàn 101 Trần Cao Vân. Đảng ủy viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 95. Tháng 3/1953, ông được điều rời chiến trường Bình Trị Thiên về tổ chức xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 367 (Pháo phòng không 37mm, đây là Trung đoàn Pháo cao xạ đầu tiên của Quân đội ta), tham gia chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (Đông Xuân 1953-1954). Đầu tháng 3/1954, Trung đoàn pháo cao xạ phòng không 367 được cấp trên quyết định đưa đi trực tiếp tham gia chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Thực hiện lệnh hành quân lên Tây Bắc, sau bao ngày vất vả, gian khổ, Trung đoàn 367 đã kịp thời chuẩn bị xong trận địa pháo để đúng ngày 13/3/1954, mở màn chiến dịch. Liên tiếp những trận đánh diễn ra, quân Pháp không ngờ là ta lại có pháo cao xạ phòng không và càng không ngờ là mới lần đầu tham gia chiến trường, các đơn vị pháo phòng không của ta lại vững vàng làm chủ kỹ thuật, phát huy mạnh mẽ hỏa lực xung quanh trận địa chiếm đồ tiếp tế của Pháp từ trên không thả dù xuống. Đồ tiếp tế không rơi trúng mục tiêu và đã bị bộ đội ta tịch thu rất nhiều, càng đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang dao động, khốn cùng và tuyệt vọng. Tổng cộng 55 ngày đêm chiến dịch, Trung đoàn bắn rơi 52 máy bay trong tổng số 62 máy bay bị bắn rơi trong Chiến dịch. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trung đoàn 367 do ông làm Trung đoàn trưởng được nâng thành Đại đoàn 367 trực thuộc Bộ Tư lệnh Binh chủng pháo binh, sau trực thuộc Bộ Quốc phòng, do ông Hoàng Kiện (Trung tướng) làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phùng làm Chính ủy, ông làm Đại đoàn phó - Đảng ủy viên (9/1954). Tháng 8/1956, ông được lệnh về Hà Nội chuẩn bị sang Liên Xô học tập ở Học viện Pháo binh Leningrad. Năm 1961, sau khi học tập ở Liên Xô trở về, ông làm Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Pháo binh phụ trách về pháo phòng không (12/1961) cho đến tháng 12/1963 ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân - Ủy viên thường vụ Đảng ủy Quân chủng. Tháng 9/1964, ông được để bạt lên làm Cục phó Cục tác chiên rồi Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân. Năm 1972, quân Mỹ đã dùng đến lực lượng máy bay chiến lược B52 ném bom trải thảm vùng giải phóng miền Nam rồi miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Bộ Tư lệnh Quân chủng Không quân khi đó đã đề xuất kế hoạch kiên quyết đánh trả B52 trước Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kế hoạch này đã được hoàn thành vào tháng 9/1972 và được Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn. Trên cương vị là Tư lệnh, ông là người trực tiếp chỉ huy thực thi bản kế hoạch công phu này, bản kế hoạch sáng tạo, biết kế thừa những kinh nghiệm đụng độ B52 trước đó cũng như áp dụng của khoa học kĩ thuật. Kết quả, sau 10 ngày đêm, có 81 máy bay các loại trong đó có 31 máy bay B52 và 5 chiếc F111 bị bắn rơi. Tháng 4/1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông trực tiếp nhận lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Ngyên Giáp vào Phan Rang trực tiếp chỉ huy trận không kích sân bay Tân Sơn Nhất bằng phi đội máy bay A37 thu được của quân Ngụy, phát tín hiệu tổng tiến công giải phóng Sài Gòn. Năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục cho đến khi về hưu (1988). Tháng 12/1982, ông được phong Trung tướng. Ông đã vinh dự được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng. |


