Bài viết

Liệt sĩ tàu 235 qua những trang nhật ký

Cuốn nhật ký bắt đầu ghi từ ngày 19-8-1966 và kết thúc ở ngày 27-3-1971 khi chủ nhân của nó, liệt sĩ Huỳnh Hường (chiến sĩ C5, đơn vị làm nhiệm vụ trinh sát chiến lược trên vùng biển Hòn Hèo, Khánh Hòa) dừng trang viết dang dở để cầm súng chiến đấu, rồi hy sinh...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuốn nhật ký bắt đầu ghi từ ngày 19-8-1966 và kết thúc ở ngày 27-3-1971 khi chủ nhân của nó, liệt sĩ Huỳnh Hường (chiến sĩ C5, đơn vị làm nhiệm vụ trinh sát chiến lược trên vùng biển Hòn Hèo, Khánh Hòa) dừng trang viết dang dở để cầm súng chiến đấu, rồi hy sinh. Và rất có thể nó đã bị chìm trong quên lãng nếu đồng đội của anh không nâng niu cất giữ trong thời gian dài, để rồi tìm đến trao tận tay cho gia đình...

Một trang nhật ký của liệt sĩ Huỳnh Hường.

Liệt sĩ Huỳnh Hường sinh ngày 25-4-1936, tại Phú Yên, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha và hai em trai đều tập kết ra Bắc. Tốt nghiệp Trường Cao chuyên Hải quân Trung Quốc và lớp cán bộ thuyền trưởng Hải quân Quảng Yên, Huỳnh Hường được phân công về đội tàu tuần tiễu (khu tuần phòng 1), làm Thuyền trưởng Tàu 134 đã từng tham gia bắt sống phi công Mỹ An-va-rét tại Vịnh Hạ Long. Năm 1966, anh được điều về Đoàn tàu Không số, sau đó vào chiến khu Hòn Hèo làm nhiệm vụ trinh sát. Anh hy sinh ngày 24-8-1971, trong chuyến công tác bị địch phục kích. Ông Đặng Đức Hạnh-nguyên là Thuyền trưởng tàu săn ngầm Hải quân hiện ở thị trấn La Hai, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, người bạn thân của liệt sĩ Huỳnh Hường kể lại: “Lần đó chúng tôi đi công tác, khoảng 4 giờ, không ngờ sa vào ổ phục kích của địch. Tôi bị thương nhưng may vào chỗ không nguy hiểm nên còn chạy ra được khỏi tầm hướng đạn của địch. Còn anh Hường trúng đạn ngay vào bụng, gắng bò ra khỏi chỗ địch phục kích hơn 100m, tự tay vùi cát chôn khẩu súng K59 và anh dũng hy sinh”.

Liệt sĩ Huỳnh Hường để lại cuốn sổ ghi chép được đóng tay bằng loại giấy kẻ ô vuông nhỏ có kích thước 10cm x 13cm, bìa cát tông cứng, ngoài cùng được bọc vải ni-lông màu xám. Ông Đặng Đức Hạnh chính là người đã giữ cuốn nhật ký trong suốt nhiều năm qua.

Trong thời gian khoảng 5 năm, liệt sĩ Huỳnh Hường đã tranh thủ ghi chép lại những sự việc mà bản thân và đơn vị kinh qua. Đó là sự kiện đón tàu 235 của Thuyền trưởng Phan Vinh, là sự day dứt, cảm phục những người đồng đội, những người bạn đã có thời học tập, rèn luyện, chiến đấu cùng nhau. “Tai nạn thì gặp nhau mà mình đã bất lực không làm được gì, chỉ đứng đó mà ngó và tự đào mồ để chôn cất người bạn thân của mình… Vinh là người được biết từ cái ngày 14 anh em Sư đoàn 324 được tuyển ra Bộ Tổng đi học (tháng 8-1955). Rồi gặp nhau cùng học ở Trường Cao chuyên Hải quân Trung Quốc. Vinh sang trước một năm, tôi sang sau cùng nhập lại ở Thanh Đảo, nhiều bữa hai đứa rủ nhau đi dạo biển, dạo phố...”.

Là niềm xót xa, tiếc thương khi tự tay đào mộ, chôn cất người bạn thân mà không biết đó là bạn mình.“Sáng 10-3-1968, không ngờ tay tôi lại đặt nơi yên nghỉ cuối cùng của người bạn thân-Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh. Anh đã hy sinh rất anh dũng. Xung quanh Vinh, Thứ đã xảy ra một trận kịch chiến. Trên người Vinh mặc một áo bu-dông vải Trung Quốc rất đẹp, có kéo phéc-mơ-tuya, quần đùi, 2 chân có 2 vết thương đã được băng lại, người chết đã lâu, khô nước, chỉ còn da bọc xương nên không nhận ra bạn mình. Sau này kể lại cho các đồng chí còn sống: An, Phong, Tuyến, Thật và Mai mới biết đấy là Phan Vinh-người thuyền trưởng thân yêu của họ, người bạn thân thiết của tôi...”.

Rồi cả niềm khâm phục, lẫn tự hào: “Vinh ơi! Vinh đã làm tròn nghĩa vụ của một người con đối với Tổ quốc. Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh-Tổ quốc và nhân dân đời đời biết ơn bạn. Mình sẽ nhớ mãi và sau này nếu còn sống mình sẽ kể lại chiến công anh hùng, sự hy sinh dũng cảm của Vinh cho các bạn cũ cùng nghe”.

Bi thương nhất là sự hy sinh của máy trưởng Trương Văn Mùi.

“....Trong số gặp nạn còn có Mùi-máy trưởng người Nam Bộ, trán hói, ít nói, thích nhậu. Mùi trúng đạn đầu tiên và chết ngay trên đài chỉ huy, sau tìm thấy xác cháy queo nằm trong cái đài bay (phần ca-bin tàu 235) ném lên đồi. Bọn mình có 4 anh em (Hường, Hưng, Nơi, Đảo) đợi trăng lên khiêng vào trong khuông bãi giữa để chôn... còn anh Tương-Chính trị viên, mình và Soi chôn ở mũi Dinh Ông.

Và cả những cảnh vất vả tìm kiếm và chôn cất đồng đội.

“...Vì trước đó mình không đón được các đồng chí nên sau khi địch rút mình rất tích cực tìm kiếm mọi ngõ ngách do đơn vị phân công, cùng Diệu băng qua Hòn Nhọn xuống đèo và phục tìm dấu vết ở Giếng Tiên, xuống Bãi Hòn trở về rẫy. Lần thứ hai cùng Sơn đi Ba Giao, Dốc Lếch, Vũng Tàu, Bãi Lớn, Đá Chồng, mũi Bà Pú, bãi tiểu, bãi dài, bãi bằng, Lỗ Cừa, Ngâm, Bầu Năng về Suối Cái. Lần thứ ba đi với Nơi, xuống Ngâm, lên Hòn Một bờ Nam gặp Vinh, Thứ, xuống Truông, bãi Giữa, bãi Chướng, bãi làng, chiều ra chỗ tàu gặp 5 xác, sau thêm 3. 1, 2 chôn tại chỗ, 3 khiêng vào bãi chôn. Chôn xong các đồng chí ai cũng mệt lả nhưng đều cảm thấy yên lòng...”.

Nếu như trước đây chúng ta chỉ biết đến lòng dũng cảm và sự hy sinh anh dũng của Anh hùng Nguyễn Phan Vinh và những chiến sĩ tàu 235 huyền thoại, thì nay những trang viết trong nhật ký của liệt sĩ Huỳnh Hường như những miếng ghép hoàn chỉnh về sự kiện bi hùng của những chiến sĩ “Tàu không số”, của quân dân các bến bãi những con người đã làm nên bản hùng ca bất tử trên vùng biển Hòn Hèo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn