Lính chiến
Viết thêm về những ngày vượt biển giải phóng Trường Sa
Bộ tư lệnh Hải quân cử Tiểu đoàn trưởng 126 Đặc công nước Mai Năng chỉ huy đem theo Đại đội 1 Đặc công nước do Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế phụ trách. Sư đoàn 2 bộ binh, Quân khu 5 lệnh cho Trung đoàn 38 cử một đội quân gồm 1 Trung đội bộ binh, một Trung đội hỏa lực do Đại đội phó Đại đội 14 - Phạm Hữu Thậm chỉ huy; trong đó có liên lạc Chính, y tá Thuật, quản lý Bảo, một súng máy 12 ly 7, một súng máy đại liên, một súng máy trung liên, 1 súng B41; súng AK, súng M79, M72 các loại; một khẩu đội ĐKZ 75 ly của Đại đội 13; một khẩu đội cối 82 ly của Đại đội 12.

Ảnh do tác giả sưu tầm chỉ mang tính minh họa.
Tư lệnh Quân khu 5 - Chu Huy Mân giao nhiệm vụ cho bộ đội của Trung đoàn 38, những người quá hải chinh đông lần này, đem theo 4 hòn đá hoa cương lấy ở núi ngũ hành sơn, chùa Non Nước và quyển sách kháng chiến chống quân nguyên mông thời nhà Trần có những câu thơ:
Đá hoa non nước cạnh san hô
Vững gốc cây xuân đẹp bốn mùa
Cho đảo bền cao thành điểm tựa
Chim cá trời mây thỏa hẹn hò.


Hai ảnh trên do tác giả cung cấp.
19 giờ tối ngày 10/4/1975, đặc công nước, bộ binh hỏa lực, hơn 100 người có mặt tại cảng Đà Nẵng. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 38 đến giao nhiệm vụ cho anh em chúng tôi. Chính ủy, tham mưu trưởng Trung đoàn, Đại đội trưởng, Chính trị viên Đại đội 14, Đại đội 13, Đại đội 12 cùng một số chiến sĩ các đơn vị đến chia tay. Chính ủy Trung đoàn ôm tôi nói:
- Chúc các đồng chí ra quân là chiến thắng, đất liền chờ tin chiến thắng.
Rồi mọi người bắt tay nhau, lần lượt xuống tàu...
Kẻ ở người đi bịn rịn nhớ nhau khôn xiết.
21 giờ đêm ngày 10/4/1975, tàu nhổ neo. Ba quả pháo sáng phụt lên, tàu hú còi từ từ rời bến. Các chiến sĩ Khu 5 chưa bao giờ ra biển. Tàu chạy xa bờ, lúc này chỉ thấy mặt biển đen sẫm với sao trời. Tàu số 683 của Đoàn 25, Hải quân lướt trên mặt biển, đạp sóng dữ, hướng tới Trường Sa...
Ngày 11/4/1975, tất cả bộ đội đặc công, bộ binh xuống hết cả dưới khoang thuyền, không được để bất cứ dấu vết gì của nhà binh ở trên boong tàu. Các thủy thủ tàu đều mặc áo thường dân, giả dạng ngư dân đi đánh cá, phơi lưới giăng phao. Riêng có Đại đội phó bộ binh Đại đội 14 Phạm Hữu Thậm là được nằm trên chiếc xuồng cứu hộ treo trên boong tàu, súng tiểu liên AK và súng M79 để bên cạnh, sẵn sàng chiến đấu.
Hai chiếc máy bay trực thăng của địch bám theo, vòng lượn trên không. Mấy chiếc tàu chiến của Hải quân quân Ngụy lảng vảng ngoài xa, kèm tàu chúng tôi hết hải phận rồi bỏ đi. Tàu 683 lênh đênh trên biển đã 4 ngày đêm chỉ thấy chim trời và cá nước mênh mông.
*
Khi phát hiện thấy đảo từ xa, tàu chúng tôi thả trôi.
Đêm 13/4/1975, tàu giảm tốc độ cách bờ khoảng 3 hải lý.
Ngày 14/4/1975, tàu tiến về phía đông đảo bí mật thả xuồng cao su chở bộ đội đặc công nước đổ bộ lên đảo. Đổ bộ thành công, tàu lại lặng lẽ tiến về phía tây đảo, dừng lại để Trung đội bộ binh chúng tôi đổ bộ. Chúng tôi đổ bộ chót lọt triển khai đội hình phía Nam - Tây Nam và Bắc – Tây Bắc đảo, cuối cùng đến hỏa lực.
Đặc công lên đảo liền triển khai đội hình vòng cung. Phía Đông Bắc và Đông Nam một Trung đội Đặc công tiền nhập theo giao thông hào tiến vào gần giữa đảo.
Đảo Song Tử Tây có chiều dài từ Tây sang Đông khoảng 700m, chiều ngang từ Nam đến Bắc khoảng 300m. Lính Khu 5 chúng tôi thì Trung đội hỏa lực chiếm lĩnh trận địa mé Tây Nam đảo, có trận địa cối và ĐKZ 75, súng máy 12ly7, một khẩu Đại liên, 1 khẩu Trung liên để bảo vệ hỏa lực. Triển khai làm cộng sự sẵn sàng chiến đấu, Trung đội bộ binh bố trí hai bên.
Khoảng 4 giờ đêm ngày 13 rạng ngày 14/4/1975, một tên lính ngụy không rõ đi tuần hay đổi gác vòng về phía Đại đội đặc công. Lộ rồi, đặc công nổ súng tiêu diệt tên lính. Trên đảo báo động, quân ngụy tập trung hỏa lực cối 81, cối 61, súng máy đại liên, ĐK90, ĐKZ75, đạn M72, M79 bắn dồn về phía bộ đội Đặc công. Hai Tiểu đội quân Ngụy chia làm 2 mũi gọng kìm theo giao thông hào phía Bắc và phía Nam tiến về phía đông nhằm đánh bật quân Đặc công nước xuống biển. Bộ đội Đặc công không ngóc đầu lên được, do hỏa lực của địch mạnh cứ nằm chịu trận.
Phía sau quân địch, ngay hướng Tây, tôi thấy tình huống quá bất ngờ liền bắn lên trời 3 quả pháo sáng (ám hiệu). Lập tức hỏa lực các loại của quân giải phóng bắn vào sau lưng quân địch. Súng nổ vang rền, bắn vào nhà Chỉ huy, nhà Thông tin, bãi đổ xăng dầu và các trận địa hỏa lực của địch. Xăng cháy sáng rực cả một vùng biển. 2 Tiểu đội bộ binh quân ta chia làm 2 mũi gọng kìm tiến đánh vào các ổ đề kháng của địch. Một Tiểu đội quân Ngụy tiến đánh vào trận địa cối 82 của quân giải phóng làm ta hy sinh 1 và bị thương 2 đồng chí.
Tôi đang chỉ huy trận đánh, thấy súng AR15 nổ, liền bắn 1 quả đạn M79 về phía đó, diệt 3 tên địch. Tiểu đội trưởng súng cối dùng súng AK tiêu diệt 4 tên. Lúc này tôi lệnh cho Tiểu đội bộ binh đánh vào trung tâm, tiến đến cột đèn giữa đảo bắt liên lạc với Trung đội Đặc công nước đánh từ giữa đánh ra.
Súng ĐKZ của quân ta bắn tiêu diệt trận địa súng cối và trận địa súng ĐK 90 của địch. Trận địa súng máy 12 ly 7 và đại liên của địch vẫn bắn. Tôi xách súng AK mang theo súng M72 vận động lên cách trận địa súng 12 ly 7 của quân ngụy chừng 30m, bắn 1 quả đạn M72, súng máy câm họng. Tôi hô xung phong và bắn lên trời 3 quả pháo sáng xanh. Đặc công, bộ binh đồng loạt xông lên xả súng áp chế quân địch, một lúc sau số quân địch còn lại xin hàng. Quân ta nhanh chóng hạ cờ Ngụy, kéo cờ quân giải phóng…
Cờ chiến thắng của quân Giải phóng tung bay trên đảo Song Tử Tây!
Tiếp đó, chúng tôi lần lượt giải phóng các đảo Sơn Ca và Nam Yết...
Khi quần đảo Trường Sa đã hoàn toàn được giải phóng, tôi được giao nhiệm vụ làm Chính trị viên đảo Sơn Ca trong 3 tháng. Tiếp đó, tôi được điều động làm Đảo phó Song Tử Tây đến hết tháng 8/1976 mới vào đất liền và bổ sung biên chế về Lữ đoàn 126 của Bộ Tư lệnh Hải quân…



