Lời hẹn ước giữa thời bom đạn
uyến đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh không chỉ là huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là nơi chứng kiến biết bao câu chuyện tình yêu, ý chí kiên cường của những người lính Cụ Hồ. Cùng sống và thực hiện nhiệm vụ tại Quảng Bình từ năm 1968, nhưng phải đến năm 1969, ông Đắc và bà Thu mới có duyên gặp gỡ.Ông Đắc kể lại: “Trong một lần thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị của bà Thu, chúng tôi quen nhau qua lời giới thiệu của đồng đội. Chúng tôi cứ thế mà nói chuyện, từ công việc rồi đến những câu chuyện về gia đình, về quê hương”.
Ông Đắc kể về những kỷ niệm với bà Thu. Hai người nhanh chóng nhận ra sự đồng điệu trong tâm hồn. Ông Đắc ấn tượng với sự tháo vát, lạc quan của bà Thu dù bom đạn luôn rình rập. Còn bà Thu thì cảm mến sự chân thành, nhiệt huyết và tính cách điềm đạm của ông Đắc. Giữa khói lửa chiến tranh, những cuộc trò chuyện ngắn ngủi đã se duyên cho họ. Dường như bom đạn, gian khổ càng khiến họ xích lại gần nhau hơn, tìm thấy ở đối phương một điểm tựa tinh thần vững chắc. Giữa bầu trời bom đạn khốc liệt, một lời hẹn ước đã được thốt ra: "Nếu còn sống, chúng ta sẽ cưới nhau".Năm 1969, bà Thu được cử đi học lớp bổ túc văn hóa Trung ương. Năm 1970, ông Đắc và bà Thu đã tổ chức đám cưới tại Tuyên Quang. Đám cưới diễn ra trong không khí ấm cúng, giản dị, nhưng tràn đầy niềm hạnh phúc và hy vọng. Sau đó, ông Đắc lại tiếp tục quay trở lại chiến trường miền Nam.
Ông Đắc, bà Thu cùng xem bức ảnh hai ông bà gặp lại đồng đội sau khi đất nước thống nhất. Thời gian đầu, mỗi khi đơn vị dừng chân tại các binh trạm, ông tranh thủ viết thư về cho gia đình. Những dòng chữ viết vội gửi gắm biết bao tình cảm của người lính nơi tuyến đầu về cho vợ ở hậu phương. Những lá thư nhiều khi mất hàng tháng trời mới có thể đến tay người thân quê nhà, trong số đó, không ít lá thư bị thất lạc.Đó là những tháng ngày bà Thu vò võ đợi chồng trong biết bao lo âu. Đã từng chứng kiến đau thương, mất mát ngay trước mắt mình nên bà Thu hiểu rõ số phận của những người lính nơi trận mạc. Tối đến, nước mắt cứ lăn dài. Thế nhưng, trong trái tim mình, bà vẫn không thôi hy vọng tới ngày chiến thắng, ngày ông Đắc trở về.
Khi tuổi đã xế chiều, hai ông bà vẫn bên nhau, vẫn dành cho nhau những cử chỉ ân cần như thuở ban đầu. Bà Thu nghẹn ngào chia sẻ: “Thời ấy, cả làng đều ngóng trông tin tức từ chiến trường nhưng không được bao nhiêu, có lúc bặt vô âm tín. Thư từ ngày càng ít dần, có khi cả năm mới nhận được thư của chồng và cũng là thư cũ. Vậy nên, tôi biết rằng các anh đã vào trận đánh lớn.Mỗi lúc xã thông báo có giấy báo tử từ miền Nam chuyển về, tim tôi thon thót nỗi sợ hãi. Cũng có tin đơn vị anh hy sinh rất nhiều khiến tôi hoang mang vô cùng. Cái cảm giác chờ đợi ấy tôi không thể nào quên được”.Giờ đây, khi tuổi đã xế chiều, ông Đắc và bà Thu vẫn bên nhau, vẫn dành cho nhau những cử chỉ ân cần như thuở ban đầu. Mái tóc bạc trắng, những vết hằn của thời gian in đậm trên khuôn mặt, nhưng ánh mắt họ vẫn lấp lánh niềm hạnh phúc và sự mãn nguyện. Họ đã có ba người con đều thành đạt, có công việc ổn định và những gia đình riêng ấm cúng.
Nhiều năm trôi qua, bà Thu vẫn là người vợ sẻ chia, thấu hiểu đồng hành với người chồng của mình. Trong căn nhà nhỏ ấm áp, ông Đắc và bà Thu thường kể lại những câu chuyện thời chiến, những lần vào sinh ra tử trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại cho các con, các cháu nghe. Cuộc đời họ là minh chứng cho tình yêu son sắt, thủy chung, bất chấp thời gian, gian khó, để rồi cuối cùng cũng có một kết thúc viên mãn, trọn vẹn.


