Lưu Nhân Chú và từ hội thề Lũng Nhai đến những chiến công giải phóng Đông Quan
Trường Đại học Hải Dương
Lưu Nhân Chú và từ hội thề Lũng Nhai đến những chiến công giải phóng Đông Quan
Trong hàng ngũ những mãnh tướng kiệt xuất của khởi nghĩa Lam Sơn, Lưu Nhân Chú nổi lên như một biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Là người con của vùng đất Thái Nguyên, ông đã vượt hàng trăm dặm đường xá xa xôi vào Thanh Hóa để giương cao ngọn cờ cứu nước. Tên tuổi của ông gắn liền với Hội thề Lũng Nhai lịch sử, những trận đánh sấm sét cắt đứt viện binh kẻ thù và sự nghiệp giải phóng hoàn toàn Đông Quan, khôi phục độc lập cho giang sơn Đại Việt.
Lưu Nhân Chú quê ở xã Thuận Điền, nay thuộc xã Vân Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ông xuất thân trong một gia đình hào trưởng uy tín tại vùng núi phía Bắc. Cha ông là Lưu Trung, một người giàu lòng yêu nước, thông thuộc địa hình núi rừng và có uy tín lớn với các tộc người thiểu số miền Việt Bắc. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chính quyền nhà Minh áp đặt bộ máy cai trị hà khắc, vơ vét tài nguyên và đàn áp tàn bạo nhân dân các dân tộc, Lưu Nhân Chú sớm hun đúc mối thù sâu sắc với quân xâm lược. Ông siêng năng rèn luyện võ nghệ, trau dồi binh thư và cùng cha âm thầm tích trữ lương thảo, chờ thời cơ đứng lên đáp lời sông núi.
Năm 1416, nghe tin Bình Định Vương Lê Lợi đang chiêu tập hiền tài ở vùng núi rừng Lam Sơn (Thanh Hóa), Lưu Nhân Chú cùng cha và người em cọc rạch là Nguyễn Xí đã lặn lội tìm vào gia nhập. Sự xuất hiện của Lưu Nhân Chú mang ý nghĩa chiến lược quan trọng, thể hiện sự kết nối và đồng lòng giữa nhân dân miền núi phía Bắc với phong trào nổi dậy ở vùng Thanh - Nghệ. Ông vinh dự là một trong 18 vị nghĩa sĩ tham gia Hội thề Lũng Nhai, cùng Lê Lợi kề vai sát cánh, cắt máu ăn thề, nguyện đem toàn bộ sức lực và tính mạng để đánh đuổi quân Minh, giải phóng dân tộc.
Từ khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính thức phát động vào đầu năm 1418, Lưu Nhân Chú luôn là vị tướng tiên phong quả cảm. Trong những năm tháng gian khổ nhất ở vùng núi Chí Linh, ông đã cùng các tướng lĩnh chịu đựng thiếu thốn, nỗ lực bảo vệ Bộ chỉ huy nghĩa quân vượt qua các đợt vây quét tàn bạo của giặc. Với lối đánh linh hoạt, thông thuộc địa hình sông núi và khả năng chỉ huy dũng mãnh, ông liên tục gieo rắc nỗi kinh hoàng cho quân địch qua các trận đánh tại Pù Rinh, Lĩnh Sơn.
Khi nghĩa quân thực hiện bước ngoặt chiến lược tiến vào Nghệ An (1424) rồi thừa thắng tiến quân ra Bắc (1426), Lưu Nhân Chú được tin cậy giao chỉ huy một đạo quân chủ lực tiến về khu vực Tây Bắc và Bắc Giang. Nhiệm vụ trọng yếu của ông là vây hãm các đồn bốt địch, thu phục nhân tâm và ngăn chặn tuyến đường viện binh từ Vân Nam và Quảng Tây sang.
Đỉnh cao chiến công của Lưu Nhân Chú ghi dấu ấn đậm nét trong trận Chi Lăng – Xương Giang vào mùa thu năm 1427. Khi nhà Minh cử 15 vạn viện binh chia làm hai cánh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy sang cứu viện, Lưu Nhân Chú cùng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát đã bố trí trận địa mai phục hiểm hóc tại ải Chi Lăng. Dưới sự chỉ huy tài tình của các tướng lĩnh, nghĩa quân Lam Sơn đã chém gục chủ tướng Liễu Thăng ngay tại trận, đập tan hoàn toàn đạo viện binh phía Đông. Ngay sau đó, Lưu Nhân Chú tiếp tục phối hợp tập trung lực lượng uy hiếp cánh quân của Mộc Thạnh ở phía Tây, khiến giặc hoảng loạn tháo chạy về nước.
Sau khi các đạo viện binh bị tiêu diệt, quân Minh cố thủ trong thành Đông Quan do Vương Thông chỉ huy rơi vào thế tuyệt vọng. Lưu Nhân Chú tham gia siết chặt vòng vây, đồng thời tham gia quá trình đàm phán, ép Vương Thông phải chấp nhận Lễ thề Đông Quan vào tháng 12 năm 1427, cam kết rút toàn bộ bộ máy cai trị và quân đội về nước. Tự tay ông đã góp phần giải phóng thành Đông Quan, chấm dứt 20 năm đô hộ tàn bạo của nhà Minh.
Năm 1428, triều Lê Sơ được thành lập, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế (Lê Thái Tổ). Lưu Nhân Chú được xếp vào hàng Khai quốc công thần, phong chức Tượng quận công, Nhập nội Hành khiển, đảm nhận trọng trách trấn giữ vùng biên giới phía Bắc rộng lớn. Ông dốc lòng dốc sức cùng triều đình củng cố biên cương, ổn định đời sống nhân dân các dân tộc miền núi và giữ gìn nền hòa bình vừa giành được.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chốn quan trường phức tạp thời kỳ đầu Lê Sơ, Lưu Nhân Chú đã trở thành nạn nhân của những sự nghi kỵ và tranh giành quyền lực phe phái. Năm 1433, ông bị gian thần Lê Sát hãm hại trong sự tiếc thương vô hạn của tướng sĩ và nhân dân. Đến thời vua Lê Thánh Tông, thảm án của ông đã được chính thức minh oan, nhà vua truy tặng ông các danh hiệu cao quý và ghi nhận ông là một trong những cột trụ vững chắc nhất của triều đại.
Lưu Nhân Chú là hình tượng tiêu biểu cho khí tiết anh hùng của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Từ người hào trưởng Thái Nguyên đến vị tướng giải phóng Đông Quan, cuộc đời ông là một thiên hùng ca về lòng yêu nước, tinh thần xả thân vì đại nghĩa và chiến công bất tử trong lịch sử dựng nước và giữ nước.


