Lưu niệm danh nhân từ nhận thức đến thực tiễn: Cụm di tích thờ danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh
1.Lưu niệm danh nhân
Hơn 30 năm vừa tu luyện, vừa hành nghề y dược học, Tuệ Tĩnh nổi danh với biệt tài sưu tầm, phát hiện các loại dược liệu là cây cỏ chung quanh nhân dân sinh sống, cứ trú làm thuốc chữa bệnh cho họ, hướng dẫn nhân dân trồng cây thuốc Nam trong vườn chùa, vườn đình, đền, nghè, miếu, trong vườn nhà dân và các phương cách sử dụng các cây thuốc đó để kịp chữa các bệnh thông thường – ông say sưa sưu tầm các bài thuốc chữa bệnh trong dân gian, thu thập các kinh nghiệm trị bệnh của Trung y, từ đó tạo dựng nên một sự nghiệp y dược mang tính dân tộc, đại chúng, sáng tạo, vượt thời đại với chủ trương “nam dược trị nam nhân”.
Tư tưởng này của ông thể hiện quan điểm môi trường rất hiện đại với triết lý “Thiên nhân hợp nhất”, coi thiên nhiên với con người hòa hợp với nhau làm một, khuyên người đời chung sống với môi trường, dựa vào môi trường để khắc phục những tác động do chính môi trường gây ra cho con người.
Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh để lại cho đời hai tác phẩm bất hủ. Đó là: “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 quyển nói về 13 phương thuốc gia giảm và 37 phương thuốc trị bệnh thương hàn. Là “Nam dược thần diệu” (thuốc nam hiệu nghiệm như thần) gồm 11 quyển nói về dược tính của 580 vị thuốc Nam, 10 khoa và 3873 phương thuốc điều trị 184 loại bệnh. Hai bộ sách nói trên đã được nhà xuất bản y học Hà Nội in bằng tiếng Việt với tên sách là: Tổng tập Tuệ Tĩnh –
năm 1960, 600 trang. Qua nghiên cứu và kết quả thực nghiệm chữa bệnh cho nhân dân tại các y xá, Tuệ Tĩnh hiểu đến ngọn nguồn giá trị của cây cỏ, nắm bắt được dược tính của cỏ cây để chữa bệnh cứu người, thử hỏi có mấy ai được như
Tuệ Tĩnh. Đội ơn ông cứu mạng, người đời tôn vinh ông là tổ sư nghề y dược nước Việt, vị thánh thuốc nam; là bậc đại y mở đường cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc Nam, Tuệ Tĩnh đã xây dựng nền móng cho y học cổ truyền dân tộc một cách toàn diện bao gồm Lý, Pháp, phương dược với truyền thống chữa bệnh bằng thuốc nam theo phương châm “Nam dược trị nam nhân” (thuốc nam chữa bệnh cho người nam) và đường hướng dưỡng sinh chú trọng giữ gìn tinh khí thần để nâng cao sức khỏe kết hợp với xông hơi, xoa bóp, day huyệt…
Y đức, y đạo, y tài của Tuệ Tĩnh đã trở thành tấm gương sáng cho những người hành đạo y noi theo trên con đường y nghiệp của mình. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác – một bậc đại danh y Việt Nam thế kỷ XVIII cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Tuệ Tĩnh. Di cảo của Tuệ Tĩnh đã trở thành sách giáo khoa có vị trí trang trọng trong các trường đại học, cao đẳng y khoa nước nhà. Ngày nay phong trào xây dựng nhà Tuệ Tĩnh (vườn thuốc nam kết hợp với y xá chữa bệnh) khắp làng quê trong cả nước chứng minh sức sống và sự lan tỏa phương châm
“Nam dược trị nam nhân” của ông. Ông xứng đáng là bậc danh nhân kiệt xuất của dân tộc.
2.2 Cụm di tích thờ đại danh y - Thiền sư ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Nhân dân ta có một truyền thống cực ký quý báu, ấy là: Chuộng anh hùng, trọng nghĩa khí, trọng đạo lý, tôn vinh và tôn thờ những người có công trạng to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Một trong những hình thức có tính phổ biến trong việc tôn vinh là: Xây dựng các đình, đền, chùa, miếu để tôn thờ sau khi người ấy quá cố một thời gian, bất kể người ấy ở vùng quê nào trên đất Việt và ngưỡng mộ các vị ấy như Thành hoàng làng, như thánh nhân cứu thế. Lật giở những trang vàng của 1000 Phật giáo Thăng Long – Hà Nội, chúng ta nhớ đến Thiền sư Tuệ Tĩnh. Ông không sinh ra và dĩ nhiên không lớn lên ở đất kinh thành, Phật y sự không hoằng dương cứu độ ở nơi này, nhưng khi ông mất, ông vẫn được thờ ở ngôi vị cao nhất của y miếu Thăng Long – Hà Nội. Nơi giữ gìn, tưởng niệm những giá trị sâu sắc của nho y Đại Việt. Tên ông cũng được đặt tên cho một con phố ở Thủ đô – Đó là Phố Tuệ Tĩnh. Ông được tôn thờ như vị thành hoàng làng ở Yên Lại, Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và chắc chắn nhiều địa phương khác trong phạm vi cả nước cùng có đền thờ ông. Còn trên quê hương ông – ngay tại huyện Cẩm Giàng có 3 nơi phụng thờ ông là: Chùa Giám, Đền Bia và Đền Xưa – Bài viết nhỏ này, chúng tôi chú ý tới 3 công trình thờ tự ông như trên.
Chúng tôi dùng cụm từ di tích lưu niệm, tưởng niệm Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh trên quê hương Cẩm Giàng là: Chùa Giám, Đền Xưa, Đền Bia bởi thấy giữa các di tích ấy có những mối tương quan gắn bó chặt chẽ với nhau ở các khía cạnh như sau: Một là cả ba di tích đều liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Đền Bia, thôn Văn Thái, xã Cẩm Văn tôn thờ tấm bia có ghi tạc lời di nguyện của ông: “Đời sau có ai bên nước sang, nhớ cho hài cốt tôi về với”.
Đền Xưa, thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ - quê hương ông, nơi ông cất tiếng khóc chào đời.
Chùa Giám, thôn Tân Sơn, xã Cẩm Sơn – nơi ông được nuôi dưỡng, ăn học thuở hàn vi tới lúc thành tài. Ông có hai thời điểm sống, tu luyện và hành nghề ở đây, vì thế chùa Giám không chỉ là di tích Lịch sử, văn hóa – kiến trúc nghệ thuật mà đích thực còn là di tích lưu niệm tiểu sử sự nghiệp, lưu niệm sinh hoạt đời sống của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh.
Hai là thời gian ra đời của di tích. Nhìn chung các di tích nói trên đều được xây dựng từ rất sớm và đều đã được BVHTTDL xếp hạng là di tích quốc gia. Chùa Giám được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1974, tòa cửu phẩm Liên hoa của di tích này đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia (năm 2015); Đền Xưa được xếp hạng năm 1990: Đền Bia được xếp hạng năm 1994.
Ba là về vị trí xây dựng và quy mô kiến trúc công trình. Khảo sát tại chỗ, chúng tôi nhận ra: về vị trí cả ba di tích nói trên đều tọa lạc ở nơi cao ráo, cảnh quan đẹp, sát đường giao thông liên thôn, liên xã rất thuận tiện cho việc tham quan, du lịch. Khuôn viên của các di tích đều khá rộng. Chùa Giám, Đền Bia tọa lạc trên khuôn viên rộng 4ha, Đền Xưa tọa lạc trên khuôn viên 1ha. Các đơn nguyên kiến trúc của các di tích này đều được sắp đặt trên trục thần đạo dẫn từ tam quan đến hậu cung theo mô thức kiến trúc truyền thống. Đó là tam quan, hai dãy hành lang, tiền đường, tam bảo, nhà tổ, nhà Cửu phẩm Liên hoa (Chùa Giám); là Nghi môn, hệ thống sân vườn, tả vu, hữu vu, tiền tế, trung từ, hậu cung (Đền Bia, Đền Xưa). Tất cả các đơn nguyên kiến trúc nêu trên đều được thiết kế, xây dựng chỉn chu, chuẩn mực, đăng đối, liên hoàn và tương đối đồng bộ. Đặc biệt là trong khuôn viên các di tích này đều bố trí các tòa nhà (cấp 4) làm nơi bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc, khám chữa bệnh cho nhân dân. Riêng Đền Bia có khu y xá với đầy đủ các phòng chức năng từ bắt mạch, kê đơn, chẩn trị, bốc thuốc và có một mảnh đất rộng trồng nhiều cây thuốc gắn với các bài thuốc chữa trị của Đại danh y – Thiền sư Tuệ Tĩnh. Bước vào sân y xá chúng tôi đã nghe tiếng dao cầu cắt thuốc, đã được ngửi mùi thuốc thơm lừng thật thú vị.
Bốn là hệ thống tượng thờ: Chùa Giám, Đền Bia, Đền Xưa đều có tượng thờ Tuệ Tĩnh và đặt nơi trang trọng nhất – đấy là Hậu cung, là nhà tổ. Tổng cộng có ba pho tượng bằng đồng, một pho tượng bằng gỗ. Pho tượng có niên đại sớm nhất là năm 1936, đặt ở Đền Bia – tượng được đúc bằng đồng, sơn son, thếp vàng lộng lẫy. Tượng được tạc ở tư thế ngồi, đầu đội mũ, khuôn mặt nhân từ, mắt sáng, nhìn thẳng, râu dài đen, tai to, hai bàn tay để ngay ngực trong thế kết ấn. Chùa Giám trước đây thờ tượng Tuệ Tĩnh bằng chất liệu gỗ - kiểu dáng, kích thước, tư thế như tượng ở Đền Bia. Niên đại muộn của tượng Tuệ Tĩnh bằng chất liệu đồng, được Bộ Y tế cung tiến đặt ở Đền Xưa, Chùa Giám năm 2005.
Nhìn chung, tượng Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh được thờ trong các di tích nói trên đều được chế tác từ chất liệu gỗ hoặc đồng. Tượng được tạo tác ở thế ngồi, đầu đội mũ, râu dài, đen, tai to, cổ cao, mắt nhìn thẳng, nhân từ, hai tay để trước ngực với tư thế Kiết ấn (Chùa Giám, Đền Xưa), hoặc cầm Lãnh bài (Đền Bia). Tượng được đặt nơi hậu cung (Đền Bia, Đền Xưa), hoặc ở trung tâm ban thờ Tổ (Chùa Giám) điều đó thể hiện lòng tôn kính với thánh thuốc Nam.
Nhìn xuyên thấu bốn tương quan kể trên, so sánh với hiện trạng chúng tôi nhận ra di tích Chùa Giám, Đền Bia, Đền Xưa đã được chăm sóc kỹ lưỡng, bảo tồn chu đáo. Các công trình đều đã được trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn giữ được giá trị kiến trúc, giá trị văn hóa tín ngưỡng xanh, sạch đẹp. Di sản luôn gắn với đời sống hiện hữu của cộng đồng dân cư, di sản tuy tọa lạc ở các vị trí, địa điểm khác nhau nhưng gẫn gũi, với kết cấu hạ tầng giao thông thuận lợi, lại thờ chung một vị thánh nên tạo thành cụm di tích rất sống động. Nhân vật được tôn thờ là vị thánh thuốc Nam. Tư tưởng trị bệnh cứu người của ông theo phương châm xuyên suốt: “Nam dược trị nam nhân” là tư tưởng đi trước thời đại ông sống. Căn cứ các tiêu chí nhận diện di tích quốc gia đặc biệt được quy định tại Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, chúng tôi cho rằng cụm di tích lưu niệm, tưởng niệm Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh là Chùa Giám, Đền Bia, Đền Xưa xứng đáng được lập hồ sơ khoa học trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Cụm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.


